Hiển thị các bài đăng có nhãn Tản văn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tản văn. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2013

VỊ " KHÔ MỘC ĐẠI SƯ" KÍNH YÊU CỦA TÔI


TTO - Năm 2003, tôi nhận công tác tại khoa công tác xã hội và phát triển cộng đồng Trường đại học Đà Lạt với bao lo lắng: cuộc sống mới của tôi nơi xứ cao nguyên này sẽ thế nào? Sinh viên, đồng nghiệp sẽ đối xử với tôi ra sao?...
Kính tặng thầy Nguyễn Tuấn Tài, giảng viên Trường đại học Đà Lạt
Vậy mà bao âu lo ấy dần tan biến khi tôi nhận được ánh mắt đầy quan tâm, nụ cười bao dung, ấm áp của thầy trưởng khoa Nguyễn Tuấn Tài.







Thầy Nguyễn Tuấn Tài là người khai sinh ra khoa và mong muốn có nhiều sinh viên trưởng thành từ nơi này. Tính thầy mộc mạc, dáng người gầy gò, xương xương; gương mặt rất hiền, nụ cười thường trực như che lấp hết những khó khăn của cuộc sống, vì thế những sinh viên tinh nghịch tặng cho thầy biệt danh "khô mộc đại sư". Mỗi bài giảng của thầy không chỉ có kiến thức mà còn là nơi thầy gửi gắm, sẻ chia đến người trẻ những kinh nghiệm sống, những trải nghiệm trong ngành, trong nghiên cứu khoa học.
Tôi là một trong những nhân sự trẻ đầu tiên của khoa. Dù không trực tiếp dạy tôi nhưng thầy Tuấn Tài đã cho tôi nhiều bài học sinh động trong cuộc sống. Gặp thầy, tôi như gặp được người cha thứ hai trong đời. Không chỉ dìu dắt, chỉ bảo tôi tận tình trong những bước đầu vào nghề giáo, thầy còn đồng hành cùng tôi trong hành trình học tập, định hướng sự nghiệp tương lai.
Khi tôi thất bại trong việc nộp hồ sơ xin học bổng du học vì không đáp ứng yêu cầu tiếng Anh, thầy đặt tay lên vai tôi nói: “Em vẫn còn nhiều cơ hội. Điều quan trọng là không từ bỏ ước mơ của mình. Thầy có thể giúp đỡ em về mặt vật chất, còn tri thức khoa học hay tiếng Anh thì em phải tự tích lũy lấy”. Ánh mắt trìu mến của thầy làm tiêu tan những buồn chán, thất vọng trong tôi để tôi quyết tâm hơn trên hành trình tìm kiếm cơ hội học tập.
Rồi thầy tích cực liên lạc với nhiều đầu mối liên quan đến chuyên ngành, tìm các nguồn tình nguyện viên nước ngoài cho khoa để chúng tôi vừa có cơ hội trau dồi kỹ năng tiếng Anh vừa nâng cao chuyên môn. Ngày tôi bảo vệ luận văn thạc sĩ, thầy xuống Sài Gòn tặng hoa, chúc mừng và không quên dặn: “Em cố gắng lên nhé! Đây chưa phải là đích đến”. Lời nhắc nhở ấy in đậm trong lòng tôi trong mỗi hành trình học tập, giảng dạy, nghiên cứu.
Lứa cán bộ trẻ chúng tôi lần lượt tìm được cơ hội du học. Có người đã tốt nghiệp và quay về trường, có người vẫn đang học. Những quả ngọt đầu mùa ấy có dấu ấn lớn lao của thầy.
Thầy hiện đã nghỉ hưu, tuổi cao, sức yếu, lại bị bệnh tật tấn công, nhưng thầy vẫn gắng đến giảng đường theo lời mời để tiếp tục trao ngọn lửa dấn thân vì cộng đồng đến những bạn trẻ đã chọn ngành công tác xã hội làm lối vào đời. Cũng vì gắng sức mà có lần thầy phải đi cấp cứu khi bài giảng còn dang dở.
Tâm hồn, trái tim, tấm lòng, nhiệt huyết của người thầy giản dị ấy là động lực để chúng tôi bền chí hơn trước những gian nan, thử thách của sự nghiệp trồng người và nghiên cứu khoa học. Cảm ơn thầy - vị "khô mộc đại sư" kính yêu của chúng tôi!
VÕ VĂN DŨNG (Nghiên cứu sinh Đại học Tổng hợp Passau, Đức)


Mời tham gia viết về "Người thầy đáng kính của tôi"

Bạn đọc thân mến, có những người thầy - người cô để lại dấu ấn đẹp trong trái tim học trò. Có những hồi ức về "người đưa đò" thân thương neo giữ dài lâu trong tâm hồn - trở thành động lực để ta vươn tới.

Nhân dịp Ngày nhà giáo Việt Nam 20-11, Tuổi Trẻ Online mời bạn đọc tham gia nội dung viết "Người thầy đáng kính của tôi" để sẻ chia tình cảm dành cho những người thầy - người cô kính yêu.

Nội dung bài viết là những câu chuyện, kỷ niệm có thật, xúc động, sâu sắc về người thầy - người cô có thật, để lại ấn tượng sâu đậm trong quãng đời đi học của bạn. Đó cũng có thể là tấm gương nhà giáo để bạn noi theo hoặc truyền cảm xúc cho những khát vọng của bạn.

Bài viết tham gia vui lòng viết bằng tiếng Việt có dấu, không quá 800 chữ, có đầy đủ thông tin về tác giả, có tên đầy đủ và nơi công tác cụ thể của người thầy - người cô được nhắc đến trong bài.

Bài viết gửi về Tuổi Trẻ Online chưa từng đăng trên bất kỳ tờ báo, tập san hay ấn phẩm nào.

Vui lòng gửi kèm hình ảnh rõ nét về người giáo viên được nhắc đến trong bài, kèm chú thích ảnh cụ thể về thời gian, địa điểm và hoàn cảnh chụp.

Nội dung viết này dành cho tất cả bạn đọc trong và ngoài nước. Bài được chọn đăng sẽ có nhuận bút. Bài viết và mọi thắc mắc gửi về email thuymai@tuoitre.com.vn, từ nay đến hết ngày 20-11-2012.

Tuổi Trẻ Online chào đón sự tham gia của tất cả bạn đọc để cùng tạo nên một không khí ấm áp, thân thương chào mừng Ngày nhà giáo Việt Nam năm nay.
Nguồn : Tuổi trẻ

Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2013

GIÁNG SINH TRẮNG- MÙA ĐÔNG XƯA ẤY LẠI VỀ

TULIP PHAN TRÀ GIANG

Năm giờ sáng thức dậy, như thường lệ, tôi đến bên cửa sổ, đưa tay hé mành cửa, lòng ngập tràn niềm vui.  Quang cảnh Giáng Sinh năm xưa bao trùm khu xóm vắng.  Một vài chiếc ô tô chuyển động rời nhà sớm…đi cày (trước tôi).  Bầu trời xám xịt, gió rít mạnh từ chiều tối hôm qua, càng lúc càng mạnh, tuyết rơi, không dữ dội, chỉ đủ cho lòng tôi vui.  Chưa có năm nào ngoại lệ, cứ đến trước lễ Giáng Sinh, dù thời tiếc trước đó ấm áp, đẹp đẽ thế nào chăng nữa, thì cái lạnh, cái “u ám” của trời Đông năm xưa, cái đêm Thiên Chúa Giáng Thế làm Người lại tái hiện, tôi bỗng hân hoan làm sao ấy…tựa như một đứa trẻ được quà, tôi mỉm cười và khe khẽ đóng bức mành rồi bắt đầu cho một ngày như mọi ngày của tôi.
church snow christmas
(Hình: “Borrow” from internet :-) …)
Chị em tôi tĩnh nguyện xong là đến giờ lên xe viếng thăm… tổ ấm thứ hai của mình, nơi mà mỗi ngày từ thứ Hai đến thứ Sáu tôi giam mình làm công viêc tôi yêu thích để mưu sinh và cũng để giúp người khác.   Trời vẫn còn tối lắm.  U ám cả một vùng, tuyết cứ rơi đều, rơi đều, càng lúc càng nhiều.  Tuyết nương theo gió rồi chạm xuống mặt đường, chồng chất nhau tạo thành không gian trắng.  Rải rác những chiếc xe rải muối trên đường đang cặm cụi làm công việc  bảo vệ sự an toàn cho người tham gia giao thông.   Tôi vừa lái xe, vừa nghe radio.  Hôm nay, tôi không nghe băng tầng 91.5 FM như thường lệ, tôi chuyển sang băng tầng 94.7, băng tầng nhạc Giáng Sinh.  Lòng càng thấy an vui đến lạ lùng.  Tôi thầm kêu lên : Ôi Giáng Sinh Trắng!
Mặt đường dội lên thứ ánh sáng bàng bạc, không gian như thổi qua một luồng sinh khí mới.  Tôi lại bắt đầu một ngày mới thật hân hoan của khung cảnh Giáng Sinh ngày xưa đang tái hiện mỗi lúc một gần thêm, rõ rệt thêm.
Còn bây giờ, ngày đang ngã về chiều.  Phủ kín nơi đây là một màu trắng xóa, tôi cảm nhận sự ngọt ngào của Giáng Sinh đang dầm thấm sâu vào tâm hồn mình.  Cảm giác gần gũi của Sự Bình An đang hút hồn tôi.  Những trái châu đỏ rực được trang trí tinh tế quanh chỗ tôi ngồi.  Ah! màu Đỏ! màu Đỏ của Giáng Sinh, màu của máu, của sự sống. 
Hơn bao giờ hết, tôi hiểu và rất hiểu vì sao màu đỏ trở thành màu biểu tượng của Giáng Sinh.  Màu đỏ ấy thông báo một thông điệp vô cùng quan trọng đối với từng cá nhân con người đang sống trên trái đất này.  Màu đỏ ấy nhắc nhở tất cả chúng ta một sứ mệnh thiêng liêng của Thiên Chúa, Ngài giáng thế làm Người, để rồi, Ngài sẽ vì tội lỗi loài người mà chịu đóng đinh trên thập tự giá, để chính dòng huyết vô tội đỏ thắm của Ngài đổ ra vì tội lỗi của chính tôi và bạn.
Đối với nhiều người, Giáng Sinh Trắng như một điềm lành cho một năm mới sẽ đến.  Riêng tôi, Giáng Sinh Trắng trở thành biểu tượng cần thiết cho tâm hồn tôi.  Giáng Sinh Trắng mang đến cho tôi cảm giác Bình An trọn vẹn và rất thực.  Bình An ấy chẳng phải chỉ tồn tại trong khoảnh khắc để tôi tạm quên đi những khắc nghiệt của cuộc sống hiện tại, song, Bình An ấy ngự ở trong tâm hôn tôi vĩnh cửu, đưa tôi vượt qua mọi khắc nghiệt của thời gian. 
Hầu như ai đi xa cũng trở về nhà trong đêm Giáng Sinh.  Gia đình bố mẹ, anh chị em quay quần bên nhau trong đêm yên lặng, bên những ngọn nến ấm áp cùng hiệp một trong sự cảm nhận lẽ huyền nhiệm của Thiên Chúa, cùng đi dự lễ Giáng Sinh ở Thánh Đường trong tịch lặng.  Một cách riêng tư, mỗi người lặng lẽ để tâm hồn mình tìm gặp Chúa Bình An, Chúa Yêu Thương, rồi cùng nhau rời khỏi Thánh Đường trong niềm vui rộn rã hơn bao giờ hết…
Đôi khi, tôi ngồi trong căn nhà của mình và ngắm nhìn Giáng Sinh Trắng, màu trắng của Tuyết khiến tôi liên tưởng đến sự vô tội của Thiên Chúa.  Màu đỏ của ngọn nến bên tôi nhắc tôi nhớ đến Huyết Ngài đã đổ ra vì tôi, và màu xanh của ngọn nến lung linh nhắc nhở tôi Sự Chết của Thiên Chúa mang đến cho tôi Niềm Hy Vọng vì Ngài đã sống lại.  Niềm Hy Vọng mà tôi và bạn tuyệt đối có thể tin cậy.  Niềm Hy Vọng, con đường duy nhất cho sự sống của chính tôi, cho từng cá nhân con người đang sống trong vũ trụ đang được điều khiển bới chính Thiên Chúa.
Bạn đang nghĩ gì đấy?  Dù bạn đang suy nghĩ gì, xin hãy cùng tôi lắng nghe Bài hát này, cô Susan Boyle sẽ đưa chúng ta vào một đêm yên lặng, đêm an bình, đêm đông xưa giá lạnh trời đất đang cùng các Thiên Thần ngợi ca Nguồn Bình An của Thiên Chúa đang đến trần gian.. Giọng ca ngọt ngào thiên phú của cô ca sĩ đặc biết này sẽ dắt chúng ta vào một thế giới của Yêu Thương!
Nguyện Sự Bình An của Chúa Giáng Sinh vào từng cõi lòng! Nguyện xin sự Tha Thứ và Tình Yêu Cứu Rỗi của Thiên Chúa nhanh chóng lan truyền khắp cùng trời cuối đất! Amen!

Thứ Hai, 26 tháng 12, 2011

ĐI NGANG QUA QUÊ …

Người ta bảo : Đời người như một dòng sông. Đời dòng sông qua bao thác, qua bao ghềnh, qua bao buồn - vui, qua những thăng - trầm … rồi hòa chung một một dòng để đổ về biển cả. Thế nhưng đời người khác với đời sông chỉ có một điều : Khi đã sắp hòa dòng về biển – con người lại muốn quay lại về nguồn để thắm thía cảm nhận hai chữ quê hương ngày ngày vẫn chảy trong dòng máu của chính mình. Vậy mà có một lần – một lần thật tình nhớ, thật tình ngậm ngùi – một lần mới đây thôi - quê ở rất gần mà chỉ ghé ngang qua.
   Ghi chép của VĂN QUANG


Kể từ ngày bà nội đi về phía núi – còn người ba không còn trên cuộc đời này nữa – những chuyến thăm quê cứ thưa dần dẫu nỗi nhớ thì vẫn cứ đầy. Vẫn là cách giải thích quen thuộc của những người tha phương cầu thực. Vẫn là cách lý giải của những phận đời mãi loay hoay vì cái chuyện cơm áo, chuyện gạo tiền và bao chuyện khác nữa trong cuộc sống bộn bề này. Vậy nên mới có chuyện : Nhớ quê mà chẳng thể về. Nhớ quê mà chỉ … đi ngang qua quê….
Mùa này đi ngang qua quê – chợt nhớ quá những ngày theo ba về quê nội. Vẫn là ngã ba Phú Lâm nơi xe trả khách – để rồi nơi đó là chỗ để hai ba con đứng đợi những chiếc cộ bò, nhờ quá giang đoạn đường gần 10 cây số về nhà nội cho đôi chân đỡ mỏi. Có lần chẳng có chiếc cộ bò nào – nên ba đi trước, con theo sau, oằn trên lưng ký su su, củ cà rốt, khoai tây và cả mấy túm trà … làm quà cho bà con lối xóm. Ngày đó còn nghèo lắm. Ngày đó muốn vượt qua hơn 300 cây số về thăm quê phải hết một ngày một đêm ; phải chắt chiu, dành dụm cả năm trời và phải học hành chăm ngoan để khoe với nội. Nghèo khó là vậy mà năm nào cũng một lần về thăm quê, thăm nội không chỉ vì nhớ - mà còn vì cái câu ba dạy : Quê hương là khúc ruột mình. 
Mùa này đi ngang qua quê – chợt nhớ quá cặp mắt mù lòa của nội vẫn nhận ra đầy đủ tiếng nói, hình hài những đứa cháu mỗi năm, hay nhiều năm chỉ gặp có một lần ; vẫn bao lời thương mến thăm hỏi, nhưng không nhận được câu trả lời nào – bởi mấy đứa nhỏ ở thành phố về không hiểu được tiếng nói của người xứ nẫu. Vậy nên mới có câu chuyện còn nhớ mãi : Mấy đứa cháu từ thành phố về hỏi : Nội ơi ruộng này của ai ? Nội tỏm tẻm nhai trầu bảo : Của nẫu cháu à ! Lại hỏi : Còn đồng kia của ai ? Nội nheo mắt bảo : Cũng của nẫu cháu à ! … Mấy đứa nhỏ ở thành phố về mừng thầm vì ruộng đồng nội mình nhiều quá – bởi chúng nó nghĩ : Của nẫu là của mình. Hỏi ba – ba bảo : Của nẫu là của người ta ! Làm cho mấy đứa nhỏ ở thành phố về quê tiu nghỉu.
Mùa này đi ngang qua quê – chợt nhớ hạt gạo ruộng nấu trong chiếc nồi làm bằng đồng trên bếp lửa rơm nhưng không bao giờ xới ; nhớ con cá trê đồng không bao giờ chiên mà phải nướng, dầm với thứ nước mắm mặn có trái ớt xanh mới hái sau vườn ; nhớ người con gái ngày nào cũng rủ ra sông hái bó củi tre  - bây giờ đã có tới 5 mặt con mà vẫn mặn mà, đằm thắm ; nhớ người bác, người cô vẫn cần mẫn với ruộng, với đồng – vẫn cần mẫn với cái cày, cái bừa để cây lúa mỗi năm ba vụ tràn sân, đầy bồ và để cột rơm cao hơn mái nhà dành cho con bò, con nghé no nê mỗi lần đồng xa hết cỏ. Người dân quê vậy đó – vẫn cần mẫn sống, cần mẫn làm và cần mẫn cam chịu để rồi những cần mẫn đó làm nên cái rất riêng, rất đẹp của chốn quê nhà.
Mùa này đi ngang qua quê – chợt nhớ ra lâu lắm rồi không về nơi chôn nhau, cắt rốn của ba mình ; không thắp hương cho nội để thưa với nội rằng : Mấy đứa cháu của nội ở thành phố bây giờ đã lớn, đã trưởng thành, có công ăn việc làm đắp đổi cuộc sống. Có nhiều chuyện buồn, chuyện vui - nhưng có một điều chắc chắn sẽ làm nội không vui – khi nội biết dẫu những đứa con, đứa cháu xa quê, mà bây giờ đã là người thành phố đã lớn, đã trưởng thành nhưng sao không nhớ về những cánh đồng ngày càng vắng bóng người ; nhớ những đôi chân xưa ngập sâu trong bùn quánh mà làm thành những cái tên, những hình hài cho đám con, đám cháu bây giờ.
Mùa này đi ngang qua quê – chợt nhận ra dòng sông Ba bao đời vẫn âm thầm góp nước đổ về biển cả ; nhận ra những hạt phù sa vẫn chắt chiu cuộn mình trên đồng cho hạt lúa nẩy mầm, cho mùa bội thu ; nhận ra ngã ba Phú Lâm bây giờ không còn phải là nơi để hai ba con đứng đợi chiếc cộ bò, nhờ quá giang mỗi lần về thăm quê của mấy chục năm về trước – mà ngã ba Phú Lâm xưa đã là con đường rộng, xe cộ ầm ào ngày cũng như đêm, ngược xuôi về quê nội và nhận ra chút thật lòng của chính mình : Sao cứ mãi đi ngang qua quê …. ?
Người ta bảo : Đời người như một dòng sông. Đời một dòng sông qua bao thác, qua bao ghềnh, qua bao buồn - vui, qua những thăng - trầm … rồi hòa chung một một dòng để đổ về biển cả. Thế nhưng đời người khác lắm với đời sông chỉ có một điều : Khi đã sắp hòa dòng về biển – con người lại muốn quay lại về nguồn để thắm thía cảm nhận hai chữ quê hương ngày ngày vẫn chảy trong dòng máu của chính mình. Vậy mà có một lần – một lần thật tình nhớ, thật tình ngậm ngùi – một lần mới đây thôi, quê ở rất gần mà chỉ ghé ngang qua…..
…. Mùa này đi ngang qua quê – chợt nhận ra những hạt nắng hiếm hoi rớt xuống dòng Ba trong mùa nước lụt ; nhận ra những cánh đồng trắng nước đang chờ vụ mới và chợt nhận ra có cánh cò mồ côi đang chấp chới bay về phía góc chân trời – rồi tự hỏi : Có phải nó cũng đang đi ngang qua quê ? ….


Thứ Ba, 20 tháng 9, 2011

VÔ TÌNH

Ghi chép của VĂN QUANG







  Cuộc sống này vẫn thế - vẫn có những điều từng phút, từng giờ và từng ngày vẫn đi qua cuộc đời của mỗi người. Cứ tưởng là bình thường, hay vô tình thôi, vậy mà có lần giật mình nhớ lại những điều bình thường, vô tình ấy – bỗng thấy hụt hẫng như vừa đánh mất những gí quý giá nhất mà không bao giờ tìm thấy lại được. Vậy là tiếc quá, rồi chợt nhớ hai câu thơ của ai đó : Có những lúc trên con đường tấp nập – Ta vô tình đi lướt qua nhau.
-------------------------------------------
Có những lúc trong ngổn ngang của cuộc sống – ta lơ đãng nhìn một nụ mai vàng nở giữa mùa hè. Ừ thì mai vàng đấy thôi. Vẫn là sắc của một loài hoa. Vẫn là hương của một loài hoa. Vẫn kết nụ để rồi nở thành hoa. Và vẫn là cánh hoa năm cánh trong muôn ngàn cánh hoa năm cánh khác vẫn hiện hữu trong cuộc sống này. Thế rồi có một ngày cánh hoa vàng rơi rụng – lại giật mình hỏi vì sao lại có cánh mai vàng nở giữa mùa hè nắng chói mà cánh mai vàng ấy phải nở vào mùa xuân mới phải. Tự hỏi : Sẽ còn nụ mai vàng nào nở vào mùa hè ? Câu trả lời chắc chắn là không .Vậy là vô tình.
Có những lúc trong tất bật của cuộc sống – ta lạnh lùng trước một nụ cười thân thiện giữa chốn đông người. Rồi nụ cười ấy đi xa, khuất phía sau lưng, không kịp nhớ ra, mà chỉ còn suy nghĩ chuyện lên cơ quan nhận lương mua cho mình chiếc ti vi mới, chuyện tặng bạn mình món quà sinh nhật chiều nay, hay chuyện ngày mai khao đám bạn vì mình vừa nhận được tấm bằng khen cấp tỉnh. Tối về nhà nhận được tin nhắn : Sáng nay gặp lại anh mừng quá mà không dám gặp. Dạo này anh khỏe không ? Cho em gửi lời thăm má. Chợt nhớ nụ cười ấy là của người con gái mình đã yêu hồi sinh viên. No đói có nhau. Khóc cười có nhau. Vậy mà vô tình.
Có những lúc trong bon chen của cuộc sống – ta nâng ly uống cạn, thốt bao lời hay, ý đẹp trước những con người chỉ gặp một lần và có thể là chỉ một lần thôi trong đời. Và cũng có lúc trong những hân hoan – ta say mèm với bạn bè trong ngày sinh nhật của chính mình ; say mèm trong những nụ hoa hồng, say mèm trong tiếng hát, điệu nhạc trong căn phòng lắc lư ánh đèn đủ màu và say mèm những lời chúc tụng cho một ngày sinh, cho một hình hài. Tối về say mèm mở cửa – đã thấy má mình đứng đó đợi từ lúc nào. Nghe má hỏi : Say hả con. Say cũng phải - hôm nay là ngày sinh của con mà! Giật mình : Sao không có má trong ngày sinh ? Sao không có má trong ngày vui cho một hình hài ?  Vậy là lỗi vô tình.
Có những lúc trong cô đơn của cuộc sống – ta thèm được nắm tay đứa trẻ, bi bô gọi tiếng ba, tiếng mẹ ; thèm ngắm nhìn những đôi trai gái dắt tay nhau trên con đường vắng ; thèm một mái ấm có vợ, có chồng dẫu có giận, có hờn và có yêu thương. Những lúc như thế - chẳng hiểu sao lại lục tìm những tấm hình đã cũ có đôi trai gái trong ngày thành vợ, thành chồng ; có người cha  già chống gậy cưới vợ cho con ; có đứa cháu gái chúc mừng hạnh phúc cô chú khiến cả nhà rưng rưng nước mắt và có bà con hai họ đủ cả mong năm sau có đứa con trai đầu lòng cho vui cửa vui nhà. Tấm hình đã cũ có đôi trai gái trong ngày thành vợ, thành chồng bây giờ chỉ còn có một người. Người kia đi rồi vì vô tình đấy thôi !
Có những lúc trong muộn phiền của cuộc sống này – cảm ơn những người bạn già, bạn trẻ cho ta sự giàu có tình người. Một nụ cười, một lát khóm chua ; một ly rượu trắng – vậy mà chất chứa biết bao nhiêu cảm hứng sống, cảm hứng vượt qua và cảm hứng đứng lên để đi những bước cuối cùng của một phận làm người. Cuộc sống này sẽ như thế nào nếu thiếu sự yêu thương của tình anh em không ruột thịt. Cuộc sống này sẽ nhạt nhẽo biết chừng nào nếu không có một nụ cười, một lát khóm chua, một ly rượu trắng để được và luôn nghĩ về nhau. Vậy mà có lần nụ cười không ngọt, lát khóm không chua, ly rượu trắng không say nên … vô tình khiến ta chút chạnh lòng.
Có những chuỗi ngày dài bận rộn với cơm áo, gạo tiền – ta vẫn miệt mài đi trên con đường của nhiều người cùng đi ; vẫn tính chuyện hơn –  chuyện thua ; chuyện được, chuyện mất ; chuyện thương – chuyện ghét và trăm thứ chuyện có vui, có buồn trong cuộc đời này. Mỗi ngày gặp nhau với chừng ấy con người. Mỗi ngày gặp nhau với chừng ấy công việc và mỗi ngày gặp nhau chỉ chừng ấy cảm xúc – không gần lại nhưng không xa hơn ; không thân thiện, nhưng cũng không thù ghét. Tất cả cộng lại chỉ là một cảm xúc không rõ ràng, nhưng lại cụ thể vì chuyện cơm áo, chuyện gạo tiền. Vậy rồi có một ngày mấy chục con người không còn đi trên lối chung – bỗng nhiên lại bật khóc. Thêm một lần nữa lại vô tình.
Có những điều rất bình thường nhưng đáng yêu thương lắm. Có những điều rất bình thường nhưng đáng nhớ, đáng trân trọng để cuộc sống này thêm vị ngọt. Nhưng để những điều bình thường đáng yêu thương, đáng nhớ và đáng trân trọng thì đừng để sự vô tình cứ mãi luẩn quẩn trong cuộc sống của chính mình. Có người vẫn hỏi vì sao vũ trụ  này có sự luân chuyển giữa ngày và đêm – và vì sao mỗi đời người sinh ra rồi có một ngày cũng phải xuôi tay, nhắm mắt. Dễ hiểu đấy thôi : Vũ trụ này có sự luân chuyển giữa ngày và đêm. Mỗi đời người sinh ra rồi có ngày phải xuôi tay nhắm mắt là vì bảo con người đừng quá vô tình với những điều tưởng chừng bình thường, nhưng đôi khi chỉ là duy nhất và thêm yêu quý thời gian, yêu quý ngày mai của chính mình.
Tháng 9. 2011

Thứ Tư, 8 tháng 6, 2011

BẤT CHỢT PHƯỢNG HỒNG

TRƯƠNG VĂN LIN

“Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng
Em chở mùa hè của tôi đi đâu...”
Sáng nay đi làm, bất chợt thấy trên đường Nguyễn Huệ một cây phượng vĩ nở hoa đỏ rực bên trời. Tự nhiên, lòng tôi náo nức như thời còn đi học, dù tôi đã trở thành công chức Nhà nước đã 20 năm. Rồi đến cơ quan, tôi thẫn thờ cả buổi, hình ảnh nhánh phượng hồng cứ gợi cho tôi những mùa hè thời xa lắc, xa lơ.
Hồi ấy, cứ vào giữa tháng năm, sau khi thi học kỳ II xong, thì mấy cây phượng già trong sân trường tôi bắt đầu lốm đốm ra hoa và khoảng hơn một tuần sau là nở rộ. Đây là khoảng thời gian chúng tôi rảnh rỗi nhất, vì đã học hết chương trình, thầy cô thì lo chấm thi, cộng điểm để chuẩn bị tổng kết năm học. Chúng tôi vẫn đến trường nhưng chỉ để... chơi. Vậy là, mấy đứa học sinh nam nghịch ngợm chúng tôi trèo lên mấy cây phượng già bẻ từng chùm hoa phượng nem xuống, lũ con gái tách từng cái nhuỵ hoa trăng trắng nhấm nháp và kết những chùm hoa phượng thành những cái vương miện đỏ rực  lên đầu, không biết mơ làm hoàng hậu hay cô dâu. Mà suy cho cùng hoàng hậu cũng là một nàng dâu.  
Rồi những quyển lưu bút được chuyền tay nhau, đứa này viết lưu bút cho đứa khác, nghe cũng lâm ly lắm, mặc dù hàng ngày chúng tôi vẫn gặp nhau trên đồng ruộng, trên đường làng với những trò chơi trẻ con và cãi lộn nhau chí choé.
Mùa hè, cánh đồng làng đã được cắt gặt xong, trâu bò được thả ăn tự do khỏi phải trông coi, cá đồng rút vào các ao và mương nước sâu, thả bò xong là chúng tôi tổ chức tát cá đồng. Buổi chiều lùa bò về đứa nào cũng có một giỏ cá nằng nặng cả nhà ăn được mấy ngày, đỡ tốn tiền đi chợ.
Một cái thú khác của mùa hè ở nhà quê là bắt dế. Bắt dế có hai cách, một là lật đất của những đám ruộng đã cày xong để bắt, nhưng những con dế loại này là dế xoàng, chỉ để làm mồi cắm câu hoặc đá ngoài đồng cho vui. Loại dế chiến là dế ở trong các hang, phải đào hoặc đổ nước vào hang mới bắt được, loại này đá cực kỳ hay, chúng tôi phải nuôi bằng dưa hấu hoặc cỏ non để chúng khỏi ê càng, đá cho hăng. Dế chơi chán chê chúng tôi đem đổi cho mấy ông bán kem, để họ đem về phố bán lại cho lũ trẻ ngoài phố. Vừa mút cà rem, chúng tôi vừa chê lũ trẻ thành phố ngu, có dế mà cũng không bắt được để chơi phải mua. Chúng tôi đâu biết rằng lũ trẻ thành phố thừa cà rem nhưng thiếu dế. Tất nhiên, chúng nó cũng chê chúng tôi ngu, vì mấy con dế hay thế mà đổi được có cây cà rem, tội nghiệp lũ trẻ nhà quê.        
Tát cá, bắt dế chán chế, khi trời có gió nồm chúng tôi đem diều ra thả. Những con diều chúng tôi tự làm bằng giấy cũ, làm gì có những con diều vải sặc sỡ như bây giờ. Dây thả diều là những sợi cước được tháo ra từ những tấm lưới hay chiếc võng cước cũ của gia đình hoặc chỉ khâu các bao xi măng nối lại, quấn vào lon sữa bò. Có khi gió mạnh làm các mối nối bị đứt, con diều theo gió về trời, chúng tôi tiếc ngẩn tiếc ngơ, ngày mai lại phải làm con diều khác và lại phải tim dây thả diều.
Mùa hè bây giờ, con trai tôi tất nhiên cũng được nghỉ học. Thế nhưng, thời gian nghỉ hè của con tôi trừ một chuyến đi chơi xa là phần thưởng của cha mẹ dành cho thành tích học tập. Thời gian còn lại dành cho những lớp học kèm văn hoá, học vẽ, học nhạc... có khi còn khổ hơn thời gian học chính khoá. Biết làm sao được tình hình chung nó vậy mà.
Mùa hè của chúng tôi bây giờ là một hay vài buổi họp lớp thầy trò, bạn bè cũ có dịp gặp nhau chia sẻ với nhau những vui buồn trong còn sống, uống với nhau vài ly bia. Nhưng có còn hơn không, tôi vẫn có mùa hè.   

Thứ Hai, 8 tháng 2, 2010

MỘT CHÚT MÙA XUÂN

BẢO THÚY
Cảm xúc trước xuân về của cô giáo ở B'Lao



Một chút lạnh đầu đông, đâu đó trên từng góc phố những chiếc áo ấm sặc sỡ thấp thoáng ẩn hiện, áo len học trò nhiều hơn trong mỗi ngày đến lớp. Mùa đông lại về…
Hôm qua Bảo Lộc với những ngày Nôel thoáng lạnh, thế mà sáng nay mùa xuân đã tràn về.
Xuân về trên môi cười bè bạn, xuân về trong ánh mắt mỗi người, xuân về trên từng góc phố Bảo Lộc thân thương. Và sáng nay, mùa xuân vừa ghé vào trường THPT Bảo Lộc.
Cả thầy cô, cả học sinh rạo rực đón xuân về, ai đó vừa cất lên câu hát “Em ơi mùa xuân đến rồi đó, xúc động lòng ta trước cuộc đời!”. Mà xúc động hơn là những cô cậu học trò cuối cấp vì chỉ còn mấy tháng nữa thôi là rời xa mái trường, rời xa thầy cô, rời xa mười hai năm đèn sách. Biết bao điều muốn nói, biết bao lời muốn viết, ấy vậy mà cứ ngây ngô không thể thành lời…
Dù mai chưa nở nhưng cây cối đang đâm chồi nảy lộc, Bảo Lộc đã rộn ràng trong sức sống mùa xuân, lòng người cũng đang ở vào khoảnh khắc giao cảm mãnh liệt nhất với cuộc đời.
Thế đó, mùa xuân lại về, lòng học trò rạo rực với mùa xuân.
Có một ai vừa đi ngang trường mà lòng như ngổn ngang trăm mối. Một chút thôi cũng đủ để lòng người ấm áp.
Vẫn có một ai mắc nợ với cuộc đời, mắc nợ với Webblog Văn 11 mà hẹn hoài chưa trả, đừng trách, đừng giận hờn vì những tất bật của đời thường cứ kéo về ngang lối, dẫu muốn mà chưa thể thành lời.
Cứ đổ lỗi cho mùa xuân vì mải vui mà quên đi nhiều việc, người ta sẽ nhẹ lòng hơn cho mỗi lãng quên trong cuộc sống hàng ngày…
Bảo Lộc, 1.1.2010 – 8.2.2010

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2010

NHỮNG MÙA HOA XA

"Những mùa hoa xa" của Trương Lin viết cho Báo xuân Phú Yên ký danh là Minh Nhã. Mời nhấp chuột vào để đọc

Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2009

NGƯỜI NHÀ QUÊ


Ghi chép của VĂN QUANG

Cũng chỉ vì cuộc chiến dài dằng dẳng mấy chục năm. Cũng vì cuộc mưu sinh và cũng vì những lý do không thể lý giải – mà ở vùng đất này có biết bao đứa con, đứa cháu suốt cả một đời chưa một lần được về quê cha, đất tổ ; được thắp nén hương thơm lên mồ mả ông bà trong ngày giỗ, chạp hay xuân về, tết đến. Dẫu có thế, những người con tứ xứ vẫn giữ được giọng nói quê mình – vẫn giữ được chút mặn mòi, chân chất của quê hương, và dẫu có ai đó vô tình bảo : Người nhà quê ấy mà - thì cũng bằng lòng. Ghi chép : Người nhà quê, của Văn Quang :
-----------------------------------

Còn nhớ cái ngày đang học lớp 8, lớp 9 – mỗi lần thằng bạn cùng lớp lên bảng trả bài là cả lớp bụm miệng cười. Chẳng phải vì thằng bạn tôi không thuộc bài, hay vì cái quần ngắn tủn lên tận gối vì đang tuổi ăn, tuổi lớn và vì cảnh nghèo chật vật – mà chỉ vì thằng bạn cùng lớp nói tiếng Huế rặt, không lẫn vào đâu được. Bao nhiêu từ mô – tê – răng – rứa được thằng bạn tôi nhắc tới trong mỗi lời nói. Đến nỗi lúc nhận lại bài kiểm tra của thầy giáo dạy môn toán, có lần nó hỏi : Răng câu này em làm đúng mà thầy cho có một điểm ? Nghe thầy giáo dạy toán giải thích, nó bảo : Rứa hả thầy ? Vậy là cả lớp cười ầm.
Thằng bạn tôi là người gốc Huế, nhưng chưa một lần về nơi nội sinh ra ba nó, mà nó chỉ được nghe, rồi mường tượng về cánh đồng có đàn cò trắng thẳng cánh trong chập chờn hoàng hôn, qua lời kể của ba, của mạ nó. Gần trọn đời sống ở vùng đất này, nhưng vì cảnh nghèo túng, lại thêm chiến tranh dai dẳng mấy chục năm trời nên ngày ba mạ nó thành vợ, thành chồng chỉ có con gà trống mới lớn, tréo cổ thắp nhang xin phép ông bà, và thêm lít rượu nếp than mời hai nhà hàng xóm. Nhiều khi nhớ quê, nhớ người thân đêm về nằm khóc, nhưng vì bầy con sáu đứa nheo nhóc nên mỗi lần như thế ba mạ nó chỉ biết thắp nén hương lên bàn thờ tổ tiên, nhưng không tấm hình nào mà chỉ có một lá vị. Và cũng vì nhớ quê cha, đất tổ mà ba mạ nó không nỡ bắt chước tiếng nói lợ lợ ở vùng đất mới, mà vẫn mô – tê – răng – rứa để bầy con sáu đứa giữ chất giọng quê mình. Và dẫu đám bạn cùng lớp bụm miệng cười - khi nó lên bảng trả bài, rồi bảo : Người nhà quê !.... Thế rồi hơn hai chục năm không gặp nhau vì cuộc mưu sinh, có một ngày nghe giọng nói qua điện thoại : Mi đi mô mà tau tới nhà không gặp ? Chưa kịp trả lời, nó hỏi tiếp : Vợ con mô, răng bây chừ chỉ sống có một mình ? Chỉ có thế mà nhận ra thằng bạn hồi học lớp 8, lớp 9 cách đây hơn hai chục năm. Chợt nghĩ : Người nhà quê trở thành người thành phố mấy chục năm rồi mà giọng vẫn rứa …
Có thằng bạn quê ở Hà Tĩnh, sinh ra, lớn lên trên vùng đất này. Ba nó theo nội nó vào Nam khi mới bước đi tập tễnh, rồi ba nó gặp mẹ nó là người cùng làng. Cũng vì cảnh nhà túng thiếu, thời chiến loạn lạc, kẻ mất người còn nên nó chưa một lần về mảnh đất mang tên Kỳ Anh – quê nội. Vậy mà bây giờ đã ngót nghét tuổi bốn mươi. Vậy mà bây giờ mỗi lần lên tiếng là rặt giọng quê – dẫu nó đàng hoàng đã là người thành phố. Có người bảo, người thành phố gì mà gọi con trâu là con tru ; cái chén ăn cơm mà gọi là cái đọi ; còn dang nắng cả ngày lên cơn nhức đầu thì nó lại bảo đau cái trốt. Nghe, nó chỉ cười, rồi bảo : Ba mất sớm, không biết mặt – Nội dạy sao thì nghe vậy. Giọng quê của mình mà !
Sinh ra rồi lớn lên trên vùng đất này. Hơn bốn mươi năm đã trôi qua nhưng có mấy lần về thăm quê, cũng vì một lý do vẫn được nhiều người chấp nhận : Vì cuộc sống. Vài ba năm vào dịp giỗ kỵ ông bà, chú bác, người thân lại gói gém mấy ngày để về nơi chôn nhau cắt rốn của ba mình và để được làm người nhà quê – nhưng không thể. vẫn gói trà, ký mứt dâu và thanh socola làm quà cho người già, con trẻ - nhưng nghe ai đó bảo : Sao không để tiền mua nải chuối thắp nhang cho nội ? Nghe đến chạnh lòng. Bà con lối xóm đến thăm, họ hàng đủ cả để được nghe trăm lời thăm hỏi. Vậy mà … mỗi câu hỏi, giọng nói quê chỉ hiểu được phân nửa – còn nửa kia thì chịu lỗi, bởi bây giờ đã là người thành phố. Chợt nghĩ : Người thành phố về quê của chính mình mà sao lạc lõng, xa lạ quá, và cứ tiếc sao không giữ giọng quê mình – dẫu có ai bảo rằng : Mày là dân xứ nẫu !
Người nhà quê như thằng bạn gốc Huế mấy chục năm về trước bây giờ đã là dân thành phố, nhưng vẫn là người nhà quê khi bây giờ nó vẫn mô – tê – răng – rứa với bất cứ ai, chứ không riêng gì với người quê nó ; vẫn hỏi thăm bạn bằng cái giọng rất Huế mà nó nghe, nó nhớ từ lời ru của mạ nó thuở lọt lòng. Người nhà quê như thằng bạn gốc Hà Tĩnh lưu lạc nơi phố thị, gần bốn chục năm rồi chưa một lần thăm quê mà vẫn là người nhà quê, bởi con trâu nó gọi là con tru, còn cái đầu thì gọi bằng cái trốt ; vẫn cười mà chẳng giận ai bao giờ khi người ta bảo cái chén ăn cơm lại gận cổ cãi lại, gọi là cái đọi. Hóa ra người nhà quê tay bắt, mặt mừng, nước mắt rưng rưng từ lần gặp đầu tiên đâu phải vì nhà cao cửa rộng, xe hơi nhà lầu, quần là áo lụa … mà người nhà quê nhận ra nhau bằng giọng nói rất riêng của quê hương mình.
Mấy ngày mưa to, gió lớn. Mấy ngày miền Trung cam lòng cho cơn bão dữ đi qua. Người nhà quê vẫn lặng thầm gạt giọt nước mắt, ngâm mình trong lũ vớt hạt lúa non cầm hơi qua bữa ; vẫn gọi giấc mơ về sau những ngày chống lại mái nhà nát vụn, lấm lem bùn đất ; vẫn rặt giọng quê, í ới gọi nhau chia phần cứu trợ. Vậy mới biết, người nhà quê sống với nhau tình nghĩa thế nào. Vậy mới hiểu, người nhà quê có mấy ai muốn trở thành người thành phố - khi chợt nhận ra mình chẳng giữ được một chút của quê …
Văn Quang
Đàlạt tháng 10.2009

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2009

ĐẾN TRƯỜNG MÙA ĐẠI DỊCH

Một bài rất thời sự của BẢO THÚY

Thế là cái điều khủng khiếp nhất đã đến.
Mới hôm qua thôi, H1N1 xuất hiện ở Bắc Mỹ…Dào, chuyện xa lắc tận nửa vòng trái đất…
Thế mà: dịch không cánh mà bay, nhanh thật!
Mấy nhóc lớp chủ nhiệm 12A10 nhanh nhảu: “Cô ơi, trường mình có bạn nhiễm cúm rồi. Mai lớp mình mang khẩu trang đi học nghen cô!”
Một, hai, ba rồi bảy em nhiễm bệnh.
Cả trường mang khẩu trang đi học. Cảm giác nặng nề vì tâm lí, sợ nhưng không hoảng loạn, buồn vì chẳng biết đến bao giờ mới hết cái nạn mang khẩu trang 24/24 thế này. Bước vào lớp nào, học trò cũng còn hai con mắt, thầy trò nhìn nhau chỉ mắt với mắt mà thôi. Một tuần, hai tuần…hi vọng rồi sẽ quen, là cứ tự động viên nhau như thế.
Sáng nay đến trường, lại buồn hơn vì « mất dạy » :
- Hưng thao giảng ở 11A2, học sinh nhiễm bệnh, Ban giám hiệu cho cả lớp nghỉ mất rồi. Cả tổ Lý đi dự giờ và ra về vì thầy không có lớp để dạy lấy đâu mà thao giảng ?
- Mình họp chủ nhiệm xong, xuống Nguyễn Tri Phương, thầy Trình hỏi : «Trên đó vẫn học chứ Thúy ? », mắt thầy đầy âu lo. Được dạy ở Nguyễn Tri Phương 2 lớp 12A3 và 12A4, về tới trường lại « mất dạy » vì 12A9 phải về cả lớp rồi : Lớp trưởng 12A9 nhiễm bệnh và nhiều em mệt mỏi quá.
Lại phải cho 11A1, 11A2, 11B4, 12A9…nghỉ.
Nghỉ cũng được nhưng chẳng biết tình hình sau nghỉ sẽ thế nào? Mắt học trò buồn rượi vì mệt mỏi, cứ nhìn vào đôi mắt các em mà thấy ngay tình hình dịch bệnh : cặp mắt không sáng và trong veo mà buồn , buồn rồi gục…Nản thật, có muốn xốc lũ nhóc dậy cũng không nổi vì mình cũng mệt quá mất rồi. Sốt, một ngày không biết gì nằm li bì. Nhỏ Hằng Nguyễn Tri Phương cứ gọi thảng thốt : Chị ơi đi xét nghiệm xem thế nào, chị đỡ chưa ? Nhỏ Dung Hòa Ninh thì gọi gần như khóc : Cô thế nào rồi…Mình nghe mấy đứa em lo lắng : Mang Thúy đi bệnh viện, đi xét nghiệm thôi…Rồi dậy, không thể nào nhiễm bệnh, chỉ sốt siêu vi thôi nhưng mệt quá.
Được nghỉ lễ 2.9, mưa và rằm tháng bảy, trời cũng buồn, mưa rả rích. Bảo Lộc lạ thế đó, ngày không cần mưa cứ mưa. Gía cứ nắng cho một ngày, một ngày để thầy trò nghỉ lễ và sưởi nắng cho ấm thì lại mưa, mưa làm cho dịch bệnh ủ ê thêm thì phải. Phòng vệ sinh dịch tể đi xịt thuốc lần hai khắp Thị xã, đài truyền hình thông báo : Đóng cửa trường THPT Bảo Lộc, THPT Nguyễn Tri Phương, THCS Quang Trung, Tiểu học Nguyễn Trãi…Tự nhiên lại có cảm giác sợ, sợ vì không biết đến bao giờ mới hết dịch, sợ vì công việc thì chồng chất mà lại phải nghỉ thế này…Thầy Hiệu trưởng gọi Hưng thảng thốt : Đưa thông báo khẩn của nhà trường lên Web : Phòng chống dịch và tiếp tục đến trường. Tối, học trò gọi tới tấp : cô ơi đi học hay được nghỉ ? Đừng có làm ầm lên chứ, phòng chống dịch và đi học, lớp nào có học sinh nhiễm bệnh hãy ở nhà, 5.9.khai giảng rồi...
Cảm giác nặng nề nhưng lại lắm chuyện buồn cười không chịu nổi. Nhỏ Hiền Nguyễn Tri Phương đang đọc văn bản «Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc » cho cả lớp cùng nghe : « …đây là một bản trường ca ca ngợi chính nghĩa », trời ơi ngộp quá và đưa tay giật phắt cái khẩu trang khỏi miệng, cả lớp bật cười, mình cũng không thể nhịn cười nổi, thế mà vẫn học, học trò là thế : bực, rồi học và trên hết là thiết tha đến lớp. Lũ học trò THPT Bảo Lộc lại còn đáng sợ hơn : sốt mà phải năn nỉ chúng mới chịu nghỉ vì sợ mất bài. Thầy Hiệu trưởng lên trước cờ nhắc nhở : Em nào sốt là phải ở nhà ngay, ở nhà rồi sau này khỏe thầy sẽ cử thầy cô dạy bù cho các em. Thế mà có đứa vẫn đến trường mà mặt thì đỏ gay vì sốt. Trời ơi, lũ nhóc ham học đến không còn biết gì là dịch bệnh.
Cả trường mang khẩu trang y tế, mình nghĩ : kiểu này các cô đến trường khỏi mất thời gian trang điểm, mà không khéo mang khẩu trang lâu quá, sau này người quen cũng hóa lạ mất thôi ! Cả Thị xã có dịch rồi, tình hình dịch bệnh đi vào từng thành viên của Thị xã. Thằng cháu 4 tuổi ở nhà được bà ngoại « đặc cách » nghỉ học mà mừng rơn, nó thuộc lòng mười khuyến cáo của Bộ y tế. « Sao Bin thuộc tài vậy, cô giáo Bin dạy hả ? » ; « Không , Bin nghe trong tivi đó chớ. »…
Lại mưa, Bảo Lộc thật buồn, buồn vì trường lớp thêm một ngày nặng nề vì H1N1và lo vì khai giảng đến nơi rồi mà mưa miết. Lại thêm một ngày học trong dịch bệnh, thương học trò « ngọ nguậy » trong khẩu trang, thương mình và đồng nghiệp vừa thở gấp vừa nói. Ngày hôm qua dịch còn tít xa từ nửa vòng trái đất mà hôm nay đành sống với lũ rồi. Mùa tựu trường đặc biệt, lắm nỗi niềm, lắm âu lo và thật nhiều trăn trở…
Thế thôi, ngày mốt là khai giảng, hi vọng Bảo Lộc có riêng một ngày nắng ấm, hi vọng một ngày virut cúm A phải « gồng mình lên » mà chịu cái nắng của xứ trà và chạy xa tít xa rời Bảo Lộc !
Bảo Lộc, 3.9.2009

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2009

NGÔI SAO BĂNG

Văn Quang nói:"Đêm ngủ không được, nổi hứng sáng tác một đoạn văn gọi là... ghi chép"


Ghi chép của VĂN QUANG


Trên bầu trời vô số những vì sao - Chẳng ai có thể biết một ngôi sao sinh ra từ lúc nào. Nhưng hãy dành ít nhất một đêm trong cuộc đời nhìn lên bầu trời để thấy sự sinh tồn của những vì sao. Rồi có một lần như thế – một lần tình cờ nhận ra một ngôi sao băng – mà nhiều người vẫn bảo rằng : Sao chết, mà đó là cái chết cho những điều ước.






Có một đêm không thể ngủ. Với tay mở cánh cửa sổ, lơ đãng nhìn lên bầu trời đặc quánh những vì sao - chợt nhớ nồi đậu luộc đặt trước sân nhà mấy chục năm về trước, khói cay xè đôi mắt, rồi hướng mắt lên bầu trời đêm ấy nghe ba kể sự tích và cả tên của các chòm sao mà ông còn nhớ trong những ngày nằm ngửa trên đống rạ cũng đã thuộc về mấy chục năm về trước, khi ông còn là một cậu bé chăn bò ở vùng quê lúa. Ba bảo : Đây là chùm sao con Gà. Đây là chùm sao con Gấu. Đây là chùm sao Lưỡi cày. Đây là chùm sao ……. Chỉ có thế mà nhớ – Nhớ đến tận bây giờ.
Đêm không ngủ ngắm sao. Chợt nhận ra vì sao nào cũng sáng, cũng đẹp. Hóa ra đêm nào mỗi vì sao đều sáng ở nơi nó vẫn sáng từ những ngày rất xưa và vẫn đẹp như thế đã rất lâu – nhưng có mấy ai biết, có mấy ai nhận ra khi mãi miết cơm áo, gạo tiền – mệt nhoài mỗi ngày, để đêm về vùi mình vào chăn gối, khét ngọt giọt mồ hôi, rồi lại đợi một ngày mới để …. gạo – tiền – cơm – áo.
Đêm không ngủ ngắm sao. Chợt nhận ra có ngôi sao vừa lìa đời. Người ta bảo, đó là ngôi sao băng. Người ta cũng bảo, mỗi lần nhìn thấy sao băng hãy tự cho mình một điều ước, và có thể không chắc chắn lắm nhưng ít nhiều cũng toại nguyện. Vậy là ước …
… Ước gì có nhiều tiền để thỏa cơn khát vì thiếu thốn chứ chẳng vì nghèo. Nhưng rồi bỗng giật mình khi nhận ra rằng : tiền bấy nhiêu đó thôi cũng đủ. Bởi lẽ mấy năm rồi chưa một lần thiếu tiền đổ xăng, đâu có thiếu điếu thuốc thơm kèm ly cà phê sữa nhiều đường, và cũng chưa lần nào thiếu dăm ba xị đế, có thêm con mực khô một nắng ở quê gửi vô cho, mời bạn mỗi chiều cao hứng. Vậy thì cắc cớ gì đêm không ngủ được, có một ngôi sao băng, lại ước có thêm tiền. Uổng phí lời ước lắm !

Đêm không ngủ ngắm bầu trời đặc quánh những vì sao, có ngôi sao băng vừa về với đất mẹ – chợt nảy ra một điều ước khác. Ước gì trong cuộc mưu sinh có chút chức - quyền. Vậy mà thoáng nghĩ thế thôi mà giật thót mình, rồi nghĩ : Không ai cũng thế, nhưng đâu thiếu kẻ có chức, có quyền mỗi lần trước cấp trên là đứng đi không thẳng ; lưng gập, nín thở, miệng nở nụ cười, dẫu lòng chẳng muốn. Còn tai trái thì mở ra chờ những lời nỉ non, nịnh hót – còn tai kia gập lại bởi chẳng dám nghe tiếng oán than, hờn trách của những người dưới cấp … Thôi, có sướng ích gì mà ước cái điều không đáng có. Thôi thì mình cứ là mình để được thẳng lưng, đi đứng đàng hoàng, khóc cười bằng chính cảm xúc của mình.
Đêm không ngủ ngắm những vì sao. Nhận ra có ngôi sao băng vừa mang cho trần gian thêm một điều ước. Mong ước ấy chẳng phải tiền và địa vị – mà ước mình sống sao cho cốt cách, tròn bổn phận làm con. Hơn 40 năm được sinh ra trong cuộc đời này – vậy mà khi mái đầu đã ngã bạc thì vẫn có mái đầu đã bạc hơn chăm chút ngày lại ngày hai bữa cơm rau mắm. Chưa được làm cha nên chẳng biết suy nghĩ của người mẹ thế nào ! Nhưng được làm con nên hiểu tấm lòng người mẹ mênh mông lắm. Có lúc tự hỏi – sao lúc nào mẹ cũng coi mình là đứa trẻ lên 3, lên 4 – dẫu sáu mươi năm cuộc đời – như người ta vẫn nói, thì mình đã ở phần thừa.
Đêm không ngủ có ngôi sao băng. Cứ ước sao người đàn bà đã qua xa cái tuổi bảy mươi, không mỏi mệt trước bao thăng trầm của cuộc sống ; không thôi yêu thương những đứa con đã bạc mái đầu vẫn ngày hai buổi mưu sinh kiếm sống ; không tủi thân khi xếp lại đĩa trái cây, thắp nén hương thơm nhớ về người chồng quá cố ; nhưng hãy cứ dỗi hờn khi đứa cháu chẳng thèm mời bà nội bịch mía ghim, dẫu vẫn biết rằng hàm răng già chỉ còn sót lại mấy chiếc đã lung lay…
Đêm trắng đêm thức cùng bầu trời đặc quánh những vì sao, chợt nhận ra lòng mình thổn thức khi sống hoài mà chưa trở thành con người tử tế. Chợt thèm được làm một ngôi sao băng mình đã thấy đêm qua ….
Con gà trống tía độc thân cất tiếng gáy. Đêm giật mình làm những vì sao vỡ vụng, tan biến - để chỉ còn một bình minh đầy ắp ánh sáng của mặt trời tươi rói như là mới mọc lần đầu tiên và duy nhất trên cõi trần gian này …

Thứ Hai, 19 tháng 1, 2009

TẾT GẦN LẮM RỒI

Mời đọc sáng tác mới , một tâm trạng khi tết đã gần kề

Tản văn của PHAN TIÊN MINH

1 Cuối cùng, sự dùng dằng của một mùa đông dài cũng đã đi qua. Khi xuất hiện những ngày nắng đầu tiên sau quãng thời gian bầu trời luôn u ám và mưa gió, thì đã cận kề với ngày đưa ông Táo về trời. Ở dải đất duyên hải trung Trung bộ này, mùa đông luôn đồng hành với nhiều lo toan về mưa gió, bão lũ, sự tàn phá của thiên nhiên. Nếu chỉ có mưa thôi đã là phúc, nhưng mưa đến “chín chiều” thì cũng đã đình trệ bao nhiêu công việc của cuộc sống hàng ngày. Tôi ngại ra ngoài trời vào những lúc như thế.
Tôi lớn lên ở mảnh đất Tuy Hòa, nơi thừa thải bão, lũ và lụt ấy. Dẫu từng trải với thiên tai, năm này qua năm nọ, cứ tưởng mình sẽ chai sạn hơn với sự cuồng nộ của đất trời. Vậy mà mỗi khi mùa mưa bắt đầu, lòng lại phập phồng lo sợ. Cách đây gần mười năm, khi đó tôi sống và làm việc ở Tuy Hoà, cơn bão dữ đổ bộ vào đất liền lúc nửa đêm, quần đảo đến hơn bốn giờ, khiến mọi sự chuẩn bị của người dân hầu như trở nên vô nghĩa. Đêm ấy, trú trong căn nhà cấp ba, tiếng gió gào thét cứ khiến tôi cứ muốn chui xuống cái bàn làm việc dày cộp, với mong muốn mình có thêm một sự chở che. Sự sợ hãi vô lý ấy quả đáng nhận được đồng cảm, vì sáng ra, sự hoang tàn bày ra trước mắt, khắp nơi... Ngày ấy, vẫn chưa có một thông tin nào cho biết trung tâm cơn bão vào đâu, tôi tháp tùng cùng các đồng nghiệp ở Đài truyền hình Phú Yên (bây giờ là Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại Phú Yên) lên xe để tìm “dấu chân của bão”. Thật may, Đài tổ chức nhiều đoàn để đi xuống cơ sở, tôi nhập đúng với đoàn đi ra hướng Sông Cầu, cũng là nơi “mắt bão” đi qua. Những thân dừa ngã oạch, vặn xoắn như chiếc dây thừng vĩ đại. Hàng chục chiếc tàu, thuyền bị sóng dữ lôi hẳn lên bờ, vỡ vụn. Nhiều ngôi nhà, trường học sập nát, trở thành những đóng xà bần... Ngược lại thời gian trước đó nữa, tôi nhớ không nhầm thì đó là năm 1983. Liền sau cơn bão là một trận lụt nhớ đời. Gia đình tôi sống trong vùng hạ lưu của sông Bàn Thạch, lần đó cả một vùng rộng lớn ngập chìm trong nước lũ suốt ba ngày đêm, vô số ngôi nhà chỉ lóp ngóp mái. Nói chung, năm nào không bão thì cũng lũ lụt, và ngược lại. Nhớ cụ thể từng năm thì không xuể nữa rồi...
Mấy năm gần đây tôi sống xa quê. Nhưng mỗi mùa mưa đến lòng vẫn hướng về chốn cũ, tin tức luôn cập nhật qua báo đài; hoặc gọi điện hỏi thăm người thân, bằng hữu. Bão và lũ lụt vẫn liên tiếp hoành hành, cảm thấy thương hơn người dân quê mình, luôn phải đương đầu với mùa đông nguy khó. Năm ngoái ở Nha Trang, tận mắt chứng kiến hàng trăm người dân thành phố du lịch vốn chưa biết bão là gì, đổ xô nhau ra bờ biển để.... đón bão đổ bộ vào, mà dạ tôi thấy bất an quá đỗi. Có thể nói nơi đó là đất lành, bão tiến vào đất liền chỉ còn vài mươi km, loay hoay một hồi rồi... quay ngược trở ra. Có thể, dường như bão lũ chỉ “thích” đối đầu, thử thách những người can trường, dũng khí và giỏi chịu đựng, như người dân đất Phú Yên vậy.

2 Buổi sáng, nắng đầu xuân có vẻ còn ngập ngừng dò xét giữa tiết trời se lạnh, rồi theo cánh chim yến rời tổ kiếm mồi, mạnh dạn bừng lên, cho ai đó dứt khoát cởi bỏ chiếc áo ấm ròng rã mấy tháng liền luôn khoát trên mình. Hôm nay đã là 23 tháng chạp, ngày đưa ông Táo về trời. Lại đúng vào ngày chủ nhật, tạm gác mọi chuyện, tôi một mình một xe, rời xa sự sầm uất để rong ruổi về mấy vùng ngoại ô thành phố. Hồi còn ở Phú Yên, mỗi khi thấy những chậu hoa mai, cúc, trang... được các nghệ nhân vùng hoa Ngọc Lãng, Bình Ngọc, Phước Hậu... lũ lượt chất lên xe tải, lên đường vào Nam, ra Bắc, vượt cả đèo lên tận mấy tỉnh Tây Nguyên, cảm xúc về mùa xuân trong tôi lại dâng trào. Đến khi lên Tây Nguyên công tác, tôi chưa kịp cảm nhận những “tín hiệu” báo xuân của xứ sở núi rừng hùng vĩ, đành mượn tạm chút “lửa sưởi ấm” bằng tình đồng hương với mấy anh em mang hoa lên bán ở thị xã Kon Tum, để thức tỉnh nhưng lo toan cho ba ngày tết của mình. Lúc này tôi lại ở Nha Trang, tuy không xa xôi và khác biệt mấy với quê nhà, nhưng nơi đây có thêm một tín hiệu đặc biệt để đón xuân, đó là những cánh chim yến thêu dệt trên nền trời. Chim yến đã không chỉ xem mấy hòn đảo ở vịnh Nha Trang làm lãnh địa sinh tồn, chúng đã được Công ty yến sào Khánh Hòa dẫn dụ để vào đất liền sinh sống. Ngoài việc ấp nở và nuôi nhân tạo chim yến thành công, Công ty này đã triển khai dự án nuôi chim yến trong nhà cho 50 hộ dân trong tỉnh. Thế nên, lúc này bóng chim yến đã dập dìu trên nền trời giữa phố xá, đồng quê. Những ngày nắng ấm này, những chấm nhỏ màu đen của chúng, nổi bật giữa nền trời trong xanh, ấm áp lạ.
Mấy năm gần đây, diễn biến thời tiết ở dải đất miền Trung rất khó lường. Mùa đông dài đăng đẳng, khiến cho cái mốc “23 tháng mười” gần như lung lay, bị xoá bỏ. Mưa nhiều và lũ muộn, nước trắng đồng. Phú Yên, Bình Định và cả Khánh Hòa, việc gieo sạ vụ lúa đông xuân của người dân cứ bị hư hại mấy lượt. Đồng áng trở nên bấp bênh, hàng chục nghìn ha ruộng lúa bị hư hại. Lệ thường, thời điểm này nhà nông chỉ ra thăm đồng trước khi an nhàn với dăm ngày tết nhất, thì nay đã phải ngập chân trong đất bùn để gieo sạ lại. Tôi không thích hình ảnh này như một cách báo hiệu xuân sang...
Trên đường về lại thành phố, ở đoạn có những hàng cau và luỹ tre xanh bên đường, tôi đã ngất ngây với hương bánh thuẩn toả đi từ nhà ai đó. Bất giác, tôi hít thật sâu để lòng ngực được ngập tràn mùi hương tưởng chừng đã mãi mất đi qua mấy chục năm rồi. Cảm ơn nhà ai đó nhé! Vậy là tết đến gần lắm rồi./.

Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2008

CẦU CŨ

Một tản văn của Trương Văn Lin vừa mới viết ký danh MINH NHÃ



Tản văn của MINH NHÃ

Miền Trung khúc khuỷu, Miền Trung gập ghềnh, cứ mười cây số lại có một con sông, đã có sông thì phải có cầu, nên dọc dài theo khúc ruột Miền Trung, tên những quê hương thường gắn liền với một dòng sông, một cây cầu. Có những dòng sông, cây cầu gắn liền với những chiến công hiển hách, trở thành di tích lịch sử của đất nước như: Cầu Hàm Rồng - Sông Mã, Cầu Hiền Lương Sông - Bến Hải, cũng có những cây cầu đã trở thành danh thắng của đất nước như Cầu Tràng Tiền - Sông Hương và những cây cầu biểu trưng cho tiềm lực kinh tế của đất nước thời đổi mới như cầu xoay qua Sông Hàn...
Cây cầu của quê tôi không được như thế, nó chỉ là một cây cầu nhỏ trên Quốc lộ 1A bắc qua Sông Bàn Thạch (một nhánh của Sông Ba). Tên cây cầu trùng với tên sông: Cầu Bàn Thạch.
Tôi biết cây cầu lần đầu tiên khi... nó đang bị sập do chiến tranh. Đó là lúc tôi cùng gia đình đưa Chị tôi sang xã bên lấy chồng. Chị tôi “sang sông” bằng thuyền, theo đúng nghĩa đen và nghĩa bóng của từ này.

Những năm tôi học cấp III, cây cầu là nơi nghỉ chân của chúng tôi sau một chặng đường dài đạp xe. Ở đó chúng tôi nhấm nháp vài món quà vặt mua ở dọc đường, khi thì vài lóng mía, khi thì mấy củ sắn nước mua (hoặc xin) được dọc đường, tán đủ thứ chuyện tầm phào trước khi về nhà cho kịp bữa cơm chiều.
Rồi sau đó, cây cầu này lại là nơi hò hẹn của tôi và cô bạn gái cùng lớp 12 và cũng là nơi chứng kiến sự thất bại của một chàng trai lần đầu tiên tỏ tình. Bây giờ nàng đã là một cô giáo, lấy chồng ở một xã thượng nguồn của dòng sông Bàn Thạch. Câu cổ thi: “Quân tại Tương Giang đầu, Thiếp tại Tương Giang vĩ” đành phải viết ngược lại. Buồn, nhưng biết làm sao được.
Thời gian như nước trôi qua cầu, thắm thoát vậy mà đã hơn ba mươi năm kể từ khi tôi biết cây cầu. Nó đã được tu sửa nhiều lần, nhưng vẫn không chịu nổi cường độ và sức nặng của những chuyến xe thời đất nước công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Vậy là người ta phải xây một cây cầu mới cao vời vợi, cách cây cầu cũ không xa. Với lan can bằng thép và giàn đèn cao áp sáng choang rất hoàng tráng.
Bây giờ mỗi khi về quê, chạy xe trên cây cầu mới, nhìn xuống cây cầu cũ nhỏ nhoi, lác đác đôi bóng người nhỏ nhoi lầm lũi đạp xe qua lại, chìm khuất trong mưa nắng. Tự nhiên, lòng tôi dậy lên một niềm rưng rưng thương cảm như thương con bò già đã hết thời cày bừa, nhưng những người nông dân không thể giết thịt vì nó đã gắn bó với mình trong việc nông gia cả đời.
Tôi biết, một ngày không xa, cây cầu Bàn Thạch cũ của tôi sẽ bị dỡ bỏ như bao cây cũ trên Quốc lộ 1A, nhưng kỷ niệm của tôi với cây cầu chắc còn rất lâu mới phai nhạt

Thứ Tư, 1 tháng 10, 2008

Ở ĐÓ MƯA NẮNG THẾ NÀO RỒI?

Tản văn của NGUYỄN NGỌC HIỂU

"Dường như mùa đông đã về..."


Mùa đông, áp thấp, gió mùa, rồi mưa bão liên miên… bạn từ vùng lũ nửa đêm bỗng gọi điện hỏi: “ Ở đó mưa nắng thế nào rồi?”. Tôi biết, nơi anh ta đang mưa dầm dề, đang thèm nắng biết dường nào.
Chuyện mưa nắng bây giờ được quan tâm nhiều hơn. Không còn nhớ từ hồi nào, những bản tin thời tiết được đặt trang trọng hơn trên các trang báo thời sự. Trên ti-vi, người ta bỗng tách ra đưa tin chuyện nắng mưa với những cô người mẫu thay đổi xiêm y là lượt như đi hội ngay cả khi báo tin bão dữ sắp ập vào đất liền. Thảm họa đến từ thiên tai như ngày càng nhiều hơn. Cái sự kiều diễm được trưng lên màn hình ấy, nhằm gây chú ý hơn đến các bản tin thời tiết khô khan, lại chỉ ra thêm một điều: Thế giới này, ngày càng bất an hơn mà thôi.
Rồi tôi đi xa. Thật không xa lắm. Chỉ tách khỏi chốn thân quen, vừa có đủ nắng mưa khác ở quê nhà. Đủ để thi thoảng phải hỏi về lung tung mấy chuyện. Và lâu lâu nhận một cái tin: “ Ngày nghỉ mà trời cứ mưa miết, chán quá! Ngoài ấy thế nào rồi, anh?”.
Nghe mưa, cố nhiên rất nhớ. Chắc là mưa lại ngập trên những cánh đồng ven thành phố đang mùa cày cấy, có khi còn ngập mấy con phố cũ. Những bóng người vừa phóng xe qua mặt phố đã khuất sau làn mưa. Đó là lúc đất trời như thu lại. Ý tưởng phóng khoáng bỗng bị nội tâm hóa. Con người co ro đi. Trong những buổi chiều đầy gió ấy, hơi ấm gia đình thường kéo người ta về nhà sớm hơn, thay vì la cà nơi quán nhậu.
Những cơn mưa miền Trung dai dẳng, lúc nào cũng kèm theo đe dọa: Lũ về…
Nhưng mưa mãi rồi cũng có ngày nắng. Những ngày nắng ít ỏi giữa hai đợt mưa dài là những ngày nắng đẹp nhất. Nó xua đi cái u uẩn của đất trời, xóa đi những ưu phiền nếu có trong lòng người. Mọi vật lại sáng lên tươi mới. Ta thấy nắng như người bạn quí lâu rồi mới gặp. Nắng về nơi này, mưa lại đến nơi kia. Con người ta dẫu xa nhau đến mấy, thì cũng cùng an trú dưới một bầu trời này thôi. Trời có nắng có mưa. Con người có thương có nhớ. Nhớ thương không từ bỏ một ai bao giờ, cho dù ai đó ở tận góc bể chân mây...
Giờ thì mỗi khi nghe hỏi: “ Ở đó, mưa nắng thế nào rồi?”. Tôi nghe không chỉ mưa nắng, mà có cả những buồn vui luân chuyển dưới bầu trời này. Nó có thể thay cho rất nhiều câu hỏi về sự quan tâm của con người dành cho nhau hơn là để có một thông tin thời tiết đơn thuần. Có thể đó là cách thay cho một lời thăm: “Anh ở đó dạo này ra sao rồi..?.”. Lời thăm quí vậy, sao lâu rồi ta cứ nghĩ, đó chỉ là một câu hỏi giản đơn thôi…
Đà Nẵng, tháng 10/2005

Thứ Tư, 3 tháng 9, 2008

THỜI BA ĐI HỌC

Nhân ngày khai trường sắp đến, xin giới thiệu một tản văn của Trương Văn Lin viết cho con. Có hơi than nghèo kể khổ...nhưng, đây có thể là tâm sự chung của nhiều người lớn lên từ nông thôn. Không biết có phải vậy không? Mời mọi người có ý kiến

Tản văn của TRƯƠNG VĂN LIN
Viết cho con trai nhân ngày khai trường



Vậy là, con đã vào lớp một, bậc đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc gia – Giáo dục tiểu học. Vậy mà ba chẳng làm được gì cho con, vì tất cả mọi việc từ áo quần, sách vở mẹ con đã lo chu toàn. Cái duy nhất mà ba có thể lo được cho con là: Chạy cho con vào một trường điểm nào đó. Nhưng ba đã không làm.

Ba đã không xin cho con vào trường điểm, vì ngôi trường đó thật ra cũng chẳng “điểm” lắm đâu. Có lẽ do đồn đãi, quá nhiều người “chạy” vào nên nó trở thành “điểm”. Cũng như các “sao” lên vùn vụt nhờ công nghệ lăng xê ấy mà. Rồi nữa, khi ngôi trường đã trở thành “điểm”, mức đóng góp sẽ cao hơn. Bạn bè con đáng lẽ được học ở trường đó, do hoàn cảnh khó khăn, không đủ sức đóng góp lại bị dạt sang trường khác ít “điểm” hơn. Thôi con ạ, lọt ra ngoài tấm chăn “trường điểm”, ba sẽ chăm sóc con bằng cách khác.

Ba lại nhớ đến cái thời ba đi học. Ba học lớp vỡ lòng (như lớp mẫu giáo của con bây giờ) ở trường làng do bác Hai con dạy. Trong khuôn viên trường có thêm trụ sở của thôn, nơi ông nội con làm việc (hồi ấy gọi bằng ấp) nên nó được gọi là Trường Lẫm. Thời chiến tranh, ở các cơ quan, công sở người ta thường đào các giao thông hào. Đây là thiên đường của ba và bạn bè. Cứ đến giờ ra chơi lại ra móc đất sét, nặn tất cả mọi thứ theo trí tưởng tượng của mình. Vào lớp, áo quần dính đầy đất sét, thế nào ba cũng bị bác Hai cho mấy roi vào mông.

Vào tiểu học, ba được học ở trường Tiểu học cộng đồng, kiến thức cũng chỉ gói gọn trong mấy quyển sách Tân Việt văn và sáu môn học yếu lược, tám môn học yếu lược. Đâu phải mang chiếc cặp nặng hàng mấy ký như con bây giờ. Học một buổi, một buổi tha hồ rong ruổi với các trò chơi bắt dế, thả diều, bắn bi, đánh trống… chẳng phải học cua, học kèm thích lắm con ạ.

Ba học cấp II sau giải phóng, cũng ở ngôi trường này, nhưng nó đã già nua, xuống cấp rất nhiều, mùa mưa cả lớp nháo nhào chạy mưa là chuyện thường. Đây là thời gia đình ta khó khăn nhất, sau giờ học ba đã biết giúp đỡ ông bà nội những việc lặt vặt. Ở trường, giờ lao động nghiêm túc hơn giờ chính khóa. Trường còn thành lập “Hợp tác xã Măng non” để học sinh lao động gây quỹ. Ba nhớ, hình như ba là thành viên Ban Quản trị của cái Hợp tác xã này.

Lên cấp III, ba được học ở trường huyện, cách nhà nội chừng 15 cây số. Nhà mình nghèo, có hai chiếc xe đạp ưu tiên để bác Bảy và mấy cô con chở giống, chở phân… đi làm ruộng. Ba đi học phải ở trọ nhà người ta, nói đúng hơn là ở ké (vì đâu có mất tiền trọ). Đầu tuần theo xe đạp bạn bè ra, cuối tuần theo về. Đã đi theo xe thì phải chở bạn. Mùa nắng còn đỡ, mùa mưa phùn, gió chướng chở được bạn qua khỏi cánh đồng trống khoảng năm sáu cây số, vất vả (nếu không nói là cực nhọc) vô cùng con ạ.

Suốt những năm học cấp III, trong các kỳ nghỉ hè ba và bạn bè đã biết làm đủ các nghề như hái củi, đốt than, làm gạch… để kiếm tiền chuẩn bị cho năm học sau, để ông bà nội đỡ lo. Khổ nhưng mà vui lắm!

Rớt đại học lần đầu, ba ở nhà làm ruộng và đủ các nghề linh tinh khác ở nông thôn, phụ với bác Bảy con chèo chống gia đình mình, vì bấy giờ ông nội con đã mất sau một thời gian dài bị bệnh. Nhà mình lâm vào cảnh rất nghèo con ạ. Mấy năm sau, bằng sự cố gắng của cả gia đình, ba thi lại và đậu đại học. Ba và cả gia đình mừng như nhà có hội (Hồi ấy, thanh niên được mang cái mác sinh viên sang lắm con ạ).

Học đại học thời bao cấp, Nhà nước lo gần như toàn bộ, gia đình rất ít tốn kém. Thế nhưng đã bao cấp thì làm gì có đầy đủ, nên chuyện đói khổ, thiếu thốn của sinh viên đã thành “chuyện không của riêng ai”. Bốn năm sinh viên đi qua, ba cũng tích tụ một ít kiến thức để vào đời.

Ra trường, tuy hơi vất vả và cuối cùng ba cũng kiếm được một chỗ làm. Thấm thoát, vậy mà đã qua 15 năm làm công chức Nhà nước. Tuy chẳng dám gọi là thành đạt, thành danh, nhưng ba đã có một việc làm ổn định và lương thiện, không xấu hổ với đồng lương mình nhận để nuôi con ăn học nghiêm túc, đàng hoàng hơn thời ba đi học.

Đi học, ai chẳng muốn mình ngồi trong ngôi trường có nhiều chính khách, nhà khoa học, văn nghệ sĩ từng ngồi. Ba tin rằng những thế hệ sau con sẽ rất tự hào khi được ngồi trong ngôi trường mà con từng học. Hãy cố gắng nghen con!

Thứ Sáu, 11 tháng 7, 2008

TRÊN SÔNG CÓ NẮNG CUỐI NGÀY

Tản văn của NGUYỄN NGỌC HIỂU

Lâu quá chẳng thấy ai gởi bài về vandalat11@gmai.com hết. Đành post lên bài dự trữ này



Không còn email với tin chờ, những cuộc họp và những cuộc… nhậu. Ta đã thoát khỏi đám đông trong thành phố, mang theo chiếc máy ảnh, chạy ra bãi soi sông Ba để ngắm… nắng.
Mặt trời xuống, sắp chạm vào đỉnh dãy núi xa mờ. Mặt sông đã chuyển sang một sắc mơ màng. Ai đó vừa phất chiếc áo ảo diệu lên những bãi soi yên ả.
Các em nhỏ ngồi câu cá, có mấy chú chuồn chuồn ớt thản nhiên đỏ rực trên chiếc cần câu. Những chiếc đò đầy cỏ đang chở những vệt nắng cuối cùng chầm chậm qua những lạch sông vắng. Và phía xa kia, đàn bò đủng đỉnh về xóm trong ráng chiều.
Ở thời khắc này, mấy ông “thầy” cầm máy ở tòa soạn ta đã dạy rằng: Đây lại cơ hội tuyệt vời của nhiếp ảnh, khi nắng trở thành nguồn sáng xiên đặc biệt dân trong nghề gọi là cross-light, dễ tạo hào quang lên mọi cảnh vật, để giúp ta có được những bức ảnh nghệ thuật.
Sau bao ngày hì hục chụp, nhưng chẳng được mấy bức ra hồn, ta đã phát hiện ra rằng, mình thường xuyên bị “kéo” ra đây không phải vì nghệ thuật bấm máy. Mà chính cây cỏ và hương đất , bầu trời và tiếng chim… cùng cái nắng huyền mị lửng lơ trên mặt sông kia, đã quyến dụ mình.
Trí óc ta lại quay về bãi sông quê Bánh Lái của ngày nhỏ.
Ở đó ta tuổi trạc các cậu bé đang câu cá kia thôi, ngày nào cũng trốn người lớn đi tắm sông, rồi mải mê dõi theo những cú rơi thẳng đứng xuống mặt nước của loài chim bói cá. Ta đã cùng chúng bạn bày ra bao nhiêu trò nghịch ngợm trên những soi dưa. Những bãi soi nồng nàn hương đất ấy, đã cho bọn mục đồng biết đọc cổ tích, gần hơn với những giấc mơ An Tiêm, để lớn lên thành người.
Rồi từ bến sông quê, ta đã đi qua bao nhiêu dòng sông trong cuộc đời mình …mà không kịp nhớ hết những chiều nghiêng nắng xuống những dòng sông ấy.
Đó có thể là một chiều ráng đỏ trên dòng Bến Tre mênh mang, làm cả bọn sinh viên gốc miền Trung lần đầu giáp mặt sông nước miền Tây, thích thú làm một trận té nước suýt bị chìm đò.
Hoặc là cảnh hoàng hôn rơi xuống mái rừng nhuộm tím đoạn sông vắng bên chân đèo Tô Na hoang dại, trong chuyến du khảo ngược Đường 7 cũ của nhóm phóng viên trẻ hơn mười năm trước.
Hay lúc ta bị lỡ chuyến xe đò cuối ngày, phải bắt hon đa ôm từ PlâyCu ngược qua Kon Tum, trong cảnh bụi đỏ và hoa quì vàng cuối mùa của bắc Tây Nguyên, để tình cờ được thấy một hoàng hôn trôi ngược về hướng mặt trời trên dòng Đăkbla kỳ lạ. Cũng như một nhóm bạn ta, bỗng dưng sao lại trôi ngược về đây...
Đời người có những khoảnh khắc thật lạ. Ngắm sông thì nhớ núi. Ra biển lại nhớ sông. Đi xa thì nhớ chốn quê nhà. Ngồi một nơi lại nhớ những tháng ngày rong ruổi … Để rồi có những buổi chiều tình cờ gặp một dòng sông nào đó, cũng đều thôi thúc ta một chuyến viễn du về phía thượng nguồn…

Thứ Tư, 28 tháng 5, 2008

MƯA QUA MIỀN KÝ ỨC


Tản văn của TRƯƠNG VĂN LIN

Một sáng thức giấc, bỗng thấy cây cỏ quanh nhà đẫm nước và bầu trời nằng nặng mây mù. Ta tự nhủ rằng thêm một mùa mưa đến. Bất chợt ký ức kéo ta về những mùa mưa xa lắc, xa lơ.

Ngày mưa, bữa cơm chiều thường ăn sớm. Bữa cơm chiều nhà tôi đúng như câu hát ru của mẹ
“Cơm với muối khó khăn mới có

Nhà đông con của khó cũng ngon…”

Vài chén cơm với muối nào thấm tháp gì với cái dạ dày vốn chăm chỉ của con nhà nghèo. Vậy là đến lúc lên đèn, chúng tôi bụng lại thấy cồn cào. Vào lúc ấy, mẹ tôi bưng một bếp than hồng lên đặt giữa nhà, cả nhà xúm lại hơ tay. Những bàn tay nhỏ xíu, những bàn tay gầy guộc hơ lên bếp than hồng, rồi áp lên mặt nghe ấm áp lạ thường. Cũng vào lúc ấy anh tôi đội áo tơi lá ra vườn chặt vào một rổ bắp, chúng tôi xí phần một người một trái. Bắp vườn nhà nướng lửa than, chúng tôi vừa thổi, vừa nhai vừa nghe mẹ tôi kể chuyện cái đận bể mương Máng mấy anh chị tôi phải ăn cháo nấu củ hũ chuối… mới thấy hết cái ngọt ngào của trái bắp vườn nhà.

Sau bữa ăn tối đạm bạc ấy, mẹ tôi bỏ một ít tro vào bếp than cẩn thận đặt dưới chiếc chõng tre bà tôi nằm. Nhà nghèo làm gì có đủ chăn, hai anh em chúng tôi chung một giường đắp cùng tấm chăn mỏng, nghe mưa rơi rào rạt trên mái tranh và mẹ tôi hát ru đứa em út ở võng bên. Giấc ngủ đêm mưa êm ái làm sao.

Rồi có một đêm mưa thật lớn, ba tôi bảo: “Mưa này chắc có cá ra”. Thế là không ai bảo ai, anh em chúng tôi dậy thật sớm. Vậy mà đã thấy ba tôi dậy trước rồi, đang ngồi bên bình trà. Cái nhá, xâu lờ, chiếc giỏ la (giỏ đựng cá) trên gác bếp được lấy xuống. Không biết mẹ tôi dậy lúc nào mà bữa cơm sáng đã được dọn ra. Sau bữa cơm, mẹ tôi vắt một vắt cơm cùng gói muối mè vào chiếc khăn để ba cha con lót dạ buổi trưa. Ba tôi vác nhá đi trước, anh tôi vác xâu lờ còn tôi xách chiếc giỏ la và nắm cơm theo sau.

Lang thang đuổi cá trên đồng, đến khi chiếc giỏ la đã nặng, ba tôi kéo mẻ nhá cuối cùng rồi bảo: “Nước dã rồi, đi về”. Anh em tôi cũng đi thâu lờ. Bây giờ mới thấy đói, nắm cơm muối mè được bẻ đôi. Ba tôi quấn điếu thuốc hút nhìn anh em chúng tôi nhồm nhoàm nhai cơm, nét mặt khắc khổ, trầm buồn.

Những ngày ba cha con đi đánh cá, mẹ tôi cũng hào phóng hơn, nồi cơm không còn ghé khoai và được nấu đầy hơn. Bữa cơm trắng với canh chua cá tràu, cá trê kho gừng, cá rô nướng… trong ngày mưa là đại tiệc của gia đình tôi. Bây giờ, đã đi làm việc, đã được dự nhiều cuộc liên hoan, chiêu đãi với nhiều loại đặc sản của các vùng miền, nhưng hương vị những bữa cơm ngày mưa của gia đình tôi vẫn chưa phai nhạt và tôi mới hiểu vì sao ba tôi buồn.

Mùa mưa, cánh đồng làng là thiên đường của tuổi thơ của chúng tôi. Đã qua mùa gặt, bò được thả ăn tự do khỏi phải trông coi. Chúng tôi tha hồ đào chuột, bắn cò trắng bằng ná cao su, thả lờ, đặt đó… Buổi chiều, cưỡi bò về trên sừng bò lủng lẳng xâu cá, xâu chim, oai như vị tướng thắng trận trở về.

Bây giờ những người thân của tôi đã đi xa, mùa mưa chỉ gợi lại cho tôi những ký ức buồn và gắn thêm nhiều nỗi lo toan như: bão lụt ở quê, đường sá bị ngập, đưa đón con cái khó khăn hơn. Nhưng bù lại, ngày mưa thường những cuộc lai rai với bạn bè ấm áp, nghĩa tình hơn. Nói như các “tửu hữu” của tôi có chút ngông ngạo là: “Trời mưa không nhậu nó phí trời”.