Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2009

HƯƠNG THỜI GIAN

Truyện ngắn của HOÀNG PHƯỢNG với ký danh HOA HẠ trên Khánh Hòa chủ nhật
Khi mới gặp anh lần đầu, chị biết mình đã thuộc về anh ấy. Anh đã hoàn toàn chinh phục trái tim chị bởi cách ăn nói nhẹ nhàng và phong cách lịch thiệp. Tâm hồn nhạy cảm của một người văn khoa như chị chẳng mấy chốc bị anh hút hồn…Chị càng yêu anh đắm say hơn, khi biết anh là người lính của biển và của sóng. Từ những ngày còn là sinh viên, chị đã thuộc rất nhiều những bài hát, bài thơ ca ngợi về người lính nơi đảo xa. Ngược lại, anh cũng cảm nhận được tâm hồn tươi trẻ của chị qua những tác phẩm báo chí và thơ của chị. Thời gian và sự đồng cảm đã gắn bó họ với nhau như bao nhiêu đôi lứa yêu nhau khác. Chỉ có khác một điều là giữa họ là sự xa cách mà không thể muốn là có thể gặp được… Thế nên sự chờ đợi luôn đồng hành với họ.

Sức mạnh tình yêu đã giúp chị vượt lên tất cả. Khái niệm về thời gian không tồn tại trong chị, chỉ có nỗi nhớ trong chị là lớn dần theo năm tháng. Cũng may, bây giờ có điện thoại di động nên hỗ trợ cho người ta rất nhiều. Thỉnh thoảng họ cũng gặp nhau qua điện thoại hoặc nhắn tin cho nhau…nên dù xa nhau hàng trăm dặm, họ vẫn được nghe tiếng nói của nhau, họ vẫn cảm giác như có nhau bên cạnh …Chị cảm thấy thật hạnh phúc khi yêu anh, chờ đợi anh. Hàng ngày nhớ anh, chị mân mê những kỷ vật anh tặng. Những con ốc biển trắng muốt, những cành hoa bằng san hô qua bàn tay khéo léo của anh mài dũa từ biển xa gởi về, đã trở thành những món quà vô giá đối với chị… Trong nhà chị đâu đâu cũng có những món quà của biển. Chị yêu anh, nên yêu biển và yêu tất cả những gì thuộc về anh. Chiều nào cũng vậy, sau khi tan sở trở về, chị một mình chạy xe xuống biển, chọn một chiếc ghế đá ít người qua lại, chị ngồi lặng lẽ, dõi mắt về nơi đảo xa, nơi đó có anh đang ngày đêm canh giữ biển trời của tổ quốc. Mẹ thường bảo chị con gái có thì, có lứa, mẹ không ngăn cản các con yêu nhau, nhưng tình yêu ấy liệu có vô vọng không. Chị hiểu nỗi lòng mẹ thương con gái nhiều nên mẹ lo lắng vậy, nếu gặp anh rồi chắc mẹ cũng sẽ thương anh như thương chị thôi. Mà làm sao chị không thương một người như anh cho được. Học hết đại học, không biết duyên nợ thế nào anh lại vào công tác trong quân đội. Và cuộc sống của anh từ đó gắn liền với biển. Anh cũng là người yêu biển, lại tràn đầy bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, anh đã tự nguyện gắn bó với biển nhiều năm liền và bây giờ anh đã trở thành một người chỉ huy thực thụ trên đảo, xa đảo một ngày anh thấy thật nhớ, thật không yên lòng…Chính vì mãi gắn bó với đảo, với biển nên anh không có nhiều thời gian nghĩ nhiều đến cuộc sống riêng mình. Rồi một lần gặp gỡ và giao lưu với những người lính chị đã tình cờ gặp anh và tình cảm của họ giờ đây đã trở nên sâu đậm.

Bạn bè thường bảo chị xa mặt là cách lòng và cảnh báo chị coi chừng tình cảm của anh. Nhưng chị tin vào tình cảm của anh dành cho chị và tin vào tình cảm của mình…Chị nhớ có một câu nói về tình yêu rất nổi tiếng của một văn hào nước ngoài: sự xa cách trong tình yêu giống như gió với lửa, nó thổi bùng lên những ngọn lửa mãnh liệt và làm tắt đi những ngọn lửa yếu ớt. Chị cảm thấy câu nói đó rất đúng với tình cảm của chị. Chị biết có rất nhiều người xung quanh chị, cùng một lúc yêu nhiều người, họ quan niệm mất người này, còn người khác thay thế, nhưng với chị đó là điều không thể. Chị nghĩ, khi yêu nhau ai không muốn được ở bên nhau, cho nhau hạnh phúc, nhưng ở xa nhau tình yêu cũng có màu sắc riêng của nó, vẻ đẹp riêng của nó. Chị bằng lòng với tình yêu của mình, sự xa cách làm cho chị cảm nhận được sự ngọt ngào của nỗi nhớ, cảm nhận được sự da diết trong đợi chờ…và chị cũng cảm nhận được mùi hương của thời gian đi qua tình yêu nơi chị.

Người ta thường nói khi yêu trái tim thường có lý lẽ riêng của nó. Trái tim chị cũng như vậy. Chị mong một ngày không xa nữa tình yêu của anh dành cho chị sẽ đơm hoa, kết trái, như tình yêu của bao nhiêu đôi lứa khác. Có một điều chị tin là anh sẽ về với chị, như sự chung thuỷ mà chị mãi nguyện dành cho anh.
HOA HẠ

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2009

BỨC TƯỢNG BÁN THÂN

Truyện ngắn mới gởi cho Văn11 Đà Lạt của TÙNG CHINH nữ sĩ
Đèn đường bật sáng. Aïnh sáng màu vàng như bao nhiêu ngọn đèn đường khác...
Như tựa vào ban công, ngắm nhìn thị trấn vào đêm. Thị trấn khum khum, nhỏ như lòng bàn tay, bỗng sáng rực với muôn ánh đèn màu rực rỡ. Với Như, thị trấn này còn chứa đựng bao điều bí mật. Ngay sự tồn tại của nàng và ngôi nhà xinh xắn của vợ chồng nàng đã là một trong những điều bí mật đó.
Sau cái chết đột ngột của người chồng, Như rơi vào một trạng thái hết sức lạ lùng. Không buồn, không vui. Không đam mê, không tuyệt vọng. Như luôn tự hỏi: Hiếu - chồng nàng không yêu nàng trong suốt thời gian chung sống ư ? Nàng không biết chia sẻ mối nghi ngờ này cùng ai. Hiếu mất rồi, để lại nỗi trống vắng lớn trong tâm hồn nàng. Nguyệt, Hoa- hai cô bạn gái thân dù thương nàng nhưng không hiểu được nàng. Ban chiều, ra mộ chồng, Như nán lại đến chiều tối hầu mong tìm trong cõi hư vô lời giải đáp đang đè nặng lòng nàng. Sau khi bày ra mấy chén con, một chai rượu nếp hương, bì bò khô và hộp bánh nhỏ “Choco-Pie”..., các cô gái thắp hương xì xụp khấn vái một hồi lâu. Họ rót rượu, nhấm nháp và nói chuyện trước mộ Hiếu.
-“Mới đó mà gần hai năm. Nhanh quá phải không ?” Nguyệt lên tiếng trước.
-“Ờ, sống thì thấy lâu chớ chết thì thấy nhanh lắm !”. Hoa phụ hoạ.
-“Bà thấy nhanh không Như ?”
Chợt thấy Như có cái sự lạ, Nguyệt nháy mắt ra hiệu làm Hoa im bặt. Như đang nhìn thẳng bức ảnh của Hiếu tạc vào bia mộ, không nói một lời. Bao nhiêu lần cùng với Như ra mộ Hiếu là bấy nhiêu lần Hoa và Nguyệt chứng kiến thái độ lạ của Như. Đó là cái nhìn thẳng thắn, kiên quyết đối với người sống chứ không phải cái nhìn bao dung tha thứ với người đã chết. Như tránh cái nhìn ngạc nhiên của hai cô bạn thân rồi nàng cố chuyện trò kể những chuyện vui của Hiếu... Cả hai cô cười như nắc nẻ. “Không ai khổ tâm như mình”. Như tự nhủ. Sắp tới giờ về, Như bần thần một lúc rồi lấy cây bút lông viết sau bia mộ Hiếu, dòng chữ nổi rõ trên phiến đá hoa cương:” Anh còn nợ em một lời giải thích lớn đó nghe!”. Hai cô bạn kia tròn xoe mắt, lắc đầu chẳng hiểu gì...
Nhớ lại thái độ của hai cô bạn lúc ban chiều, Như mỉm cười một mình. Cười mà không vui. Có gì vui đâu, nàng đã thành một thiếu phụ goá chồng khi chưa đầy ba mươi. Bảy năm về trước, Như quyết định lấy Hiếu, cả gia đình nàng đã phản đối kịch liệt. Họ bảo lấy một người đàn ông từng có một đời vợ như thế, Như sẽ khổ suốt đời. Như gạt hết mọi ngăn cản để đến với Hiếu bằng tiếng gọi của trái tim. Vả lại Như tin rằng một người chồng hơn mình mười bốn tuổi sẽ bao dung, thương yêu và tôn trọng nàng. Anh sẽ là chỗ dựa tinh thần của đời nàng. Đôi uyên ương dành dụm xây được ngôi nhà nhỏ xinh đẹp. Chồng nàng có đôi bàn tay tài hoa và bộ óc thẩm mỹ đã biến ngôi nhà thành một thiên đường diễm lệ. Duy có một điều là họ vẫn chưa có con. Hình như một đôi lần trước khi Hiếu mất, khi đề cập đến chuyện có con, Như bắt gặp Hiếu thở dài...

...Đèn đường sáng hơn. Thứ ánh sáng vàng vọt, huyền bí xuyên qua căn phòng tạo những vệt sáng tối. Gợi cô đơn, trống vắng, trường liên tưởng miên man...
Có tiếng chim vọng từ nơi mơ hồ...
Có tiếng thầm thì của đêm...
Có người đàn bà là Như đang độc thoại với bóng đêm. Đã thành lệ, từ khi Hiếu mất Như không ăn cơm chiều, đứng lặng hàng giờ trước ban công ngắm nhìn phố thị lên đèn. Đây chính là thời khắc quan trọng của nàng sau một ngày làm việc. Trước kia, nàng và Hiếu vẫn thường ngồi trước ban công như thế. Anh thổi kèn ắcmônica cho nàng nghe. Đó là những ca khúc thời anh còn là một chiến sĩ bộ đội biên phòng trấn giữ đồn 619 ở biên giới Tây Nam. Có khi họ chẳng nói gì nhiều. Mà Hiếu có chịu nói gì đâu. Anh sống lẳng lặng. Làm việc im lặng. Yêu thương cũng im lặng. Ngày họ tỏ tình với nhau, anh chỉ nói bằng ngôn ngữ đôi mắt, cầm lấy đôi bàn tay run rẩy của Như. Rồi họ thành vợ thành chồng. Cái cách anh ân ái với vợ cũng thật lạ. Ngoại trừ những khi anh ho khục khặc vì di chứng của trận cảm cúm còn để lại, chẳng bao giờ thấy anh nói gì. Mà Như muốn nghe anh nói dù chỉ một lời biểu hiện của yêu thương. Có lần Như hỏi:
-” Nè, ông xã đi công tác suốt. Có nhớ người ta không ?”.
-“Nhớ sao không nhớ !”. Chồng Như trả lời.
-“ Có thấy ông xã nói gì đâu ?”.
-“Cần gì phải nói mới là nhớ !”.
Như im lặng và chấp nhận. Có thể đó là cái cách yêu thương của chồng Như. Nhưng Như là đàn bà . Phàm đã là đàn bà trên thế giới này ai mà không muốn được nghe chồng âu yếm, yêu thương. Chồng Như là chuyên viên thiết kế xây dựng, hết việc ở cơ quan về nhà lại chúi mũi vào màn hình vi tính, tính toán đo đạc, chữa bản vẽ rồi lại ra đi...Như làm kế toán sổ sách cho một công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân nên cũng bận suốt ngày. Vậy mà“cuộc sống không lời” ấy vẫn gắn kết họ chừng ấy năm. Cho đến khi... chồng Như đột ngột qua đời vì cơn nhồi máu cơ tim. Âúy là lần họp lớp 12C1 của anh sau hai mươi năm ra trường. Như cũng có tham dự. Chẳng phải do vui được gặp lại bạn bè thời phổ thông mà anh quá chén hay không ? Sau khi lo ma chay, hậu sự cho anh, Như hụt hẫng đến cả tháng trời. Chuyện buồn nào rồi cũng có thể nguôi ngoai theo thời gian. Vì dù sao Như vẫn phải tiếp tục sống, tiếp tục làm việc...
Sau đó ít lâu, một lần sắp xếp lại tủ sách, Như tìm thấy một cuốn sổ nhàu cũ. Đó là những dòng nhật ký đầy yêu thương mà chồng nàng dành cho một phụ nữ khác: Điệp - vợ cũ của anh. Có cả nhớ thương, những ái ân trong tưởng tượng... Như sững sờ. Nàng lờ mờ hiểu được người vợ cũ có ý nghĩa với anh như thế nào ? Vậy là anh không yêu nàng ?. Nàng đau khổ và giận dữ. Giận dữ với cả chính mình. Nàng còn tìm thấy một thùng quà nhỏ được bao bọc bằng giấy hoa cẩn thận. Như run run mở hộp quà một cách chậm chạp. Một bức tượng đôi nam nữ bán thân kèm theo mảnh giấy nhỏ:”Tặng Quỳnh Như”. Đây là món quà bất ngờ vì chồng nàng tặng không phải nhân dịp kỷ niệm ngày cưới hay sinh nhật của nàng. Nhưng anh đã không còn nữa, món quà đối với nàng cũng có ý nghĩa gì đâu. Nhất là khi mà anh không yêu nàng! Nàng thờ ơ để bức tượng ở trên bàn...

Như bước vào phòng. Bây giờ thì bức tượng ấy vẫn còn nguyên ở đó. Nó như một dấu hỏi lớn tác động vào tâm thức của nàng, dày vò nàng ngày cũng như đêm.
...Đèn đường vẫn sáng. Thứ ánh sáng sẫm màu vàng đặc, xuyên qua căn phòng tạo những vệt sáng tối. Mọi vật trong phòng đều được nhuộm vàng trừ bức tượng bán thân bằng than đá đen tuyền. Và ánh sáng đèn từ bên trên bức tượng chảy xuống in hình bóng nó, nằm nổi trôi trên thềm...


* *
*

Có một đêm...
Đèn đường không sáng nữa. Trên ti vi, cô phát thanh viên của trang thời sự địa phương thông báo có sự cố của lưới điện trong khu vực. Vậy là không có thứ ánh sáng màu vàng sẫm xuyên qua căn phòng gợi những vệt sáng tối. Không có tiếng chim vọng từ nơi mơ hồ.
Và Như cũng không đứng ngoài ban công ngắm nhìn phố thị như mọi khi nữa. Nàng bật đèn nê-ông. Thứ ánh sáng trắng nhợt nhạt phản chiếu khắp gian phòng, dội lại trong hồn Như một nỗi buồn khó tả. Nàng đang sắp xếp mọi thứ để giao căn nhà này cho người chủ mới. Phải bán căn nhà này, Như thấy tiếc. Nhưng nàng không có con với Hiếu. Việc giữ một căn nhà như thế cho riêng một người thiếu phụ còn quá trẻ là điều không thể được. Mẹ chồng gợi ý xa xôi... Đứa em chồng không ngần ngại gì đặt thẳng vấn đề:
-”Anh Hiếu để lại cho chị một căn nhà rộng quá hả chị Như ? Chỉ tiếc không có ai thừa tự, cúng giỗ ảnh. Hay là chị bán nhà đi về ở với mẹ cho vui ?”.
Lời nói của cô em chồng như một nhát dao đâm vào tim nàng...Thật sự Như dự định chờ mãn tang chồng, nàng sẽ bán căn nhà trang trải mọi thứ, chuyển công tác về huyện K., để lại một khoản tiền nhỏ dưỡng già cho mẹ chồng. Giờ đây, mọi thứ đối với Như không còn ý nghĩa gì nữa. Nàng như cỗ máy của thời gian. Cỗ máy ấy rệu rã vì đời sống tinh thần nàng chưa được giải toả. Nàng đau khổ vì nghĩ rằng chồng nàng không yêu nàng. Sắp xếp xong mọi thứ, Như lưỡng lự xem mình có còn quên điều gì không ? Nàng lướt qua giá sách phía bên trên. À, lại quên mất, còn bức tượng bán thân đen tuyền-quà tặng của Hiếu mua tận Quảng Ninh trước khi anh mất ba tháng ... Như bắt ghế trèo lên, với tay kệ sách trên cùng đỡ lấy bức tượng xuống. Nàng lau sạch bụi, bức tượng ánh lên vẻ đẹp lung linh: Một đôi tình nhân nửa người,cả khuôn mặt cũng bị cắt ngang chỉ nhìn thấy từ mắt trở xuống. Nửa người đàn ông làm bằng chất liệu than đá ánh kim, những nhát cắt gồ ghề nhưng mạnh mẽ. Nửa người thiếu nữ làm bằng chất liệu than đá đen bóng tuyệt đẹp với nét môi và chiếc cằm mềm mại. Nửa người đàn ông xoay người áp vào mặt nửa người thiếu nữ đang e lệ nép sát mái tóc của mình vào anh ta. Không chủ ý điêu khắc đôi mắt. Thiếu hẳn vầng trán mà bức tượng rất có hồn. Đó là tình yêu thương, tin cậy của một đôi tình nhân được toại nguyện...Ừ, phải rồi, mình và Hiếu có được toại nguyện đâu !. Như lẩm bẩm một mình...
Bỗng điện vụt tắt. Lại sự cố gì nữa đây. Như lụi cụi, mò mẫm tìm chiếc quẹt ga châm nến. Aïnh sáng ngọn nến ban đầu còn loè nhoè sau tỏ dần. Mọi vật trong căn phòng đều mờ mờ trừ bức tượng bán thân phản chiếu thứ ánh sáng lạ soi rõ cả bóng hình của Như. Như mân mê bức tượng hồi lâu rồi linh tính mách bảo có cái gì cồm cộm phía dưới bức tượng. Nàng xoay bức tượng và tìm thấy chiếc ngăn kéo nhỏ được giấu khéo léo. Có một mảnh giấy gấp tư. Một bức thư với những dòng chữ quen thuộc của Hiếu hiện ra...

“Quỳnh Như em thương! Phải viết thế này thật xấu hổ cho anh. Những ngày này ở Quảng Ninh, anh nghĩ nhiều về em. Rất sợ em buồn nhưng rồi anh quyết định sẽ nói lên sự thật có thể em đã biết nhưng chưa được đầy đủ. Em còn nhớ anh đã kể những lần bọn anh trinh sát bảo vệ đồn 619 ở biên giới Tây Nam không ? Một lần tốp trinh sát của anh dẫm phải mìn của bọn địch.Thái hy sinh ngay tại chỗ còn Thìn bị mìn nghiến đứt đôi chân. Anh may mắn hơn chỉ bị xây xát nhẹ nhưng một mảnh đạn nhỏ đâm ngang đùi trái... Mãi sau này anh mới được biết là mình không thể có con . Bức tượng này tượng trưng cho tình yêu thương của anh dành cho em. Hãy tha thứ cho anh vì đã lôi cuốn em vào một cuộc đời đầy bất trắc. Và vì anh không mang đến cho em niềm vui được làm mẹ. Anh rất yêu em.
Hi?u “
Thế là đã rõ. Quỳnh Như oà khóc. Khóc như thể chưa bao giờ được khóc. Và rồi có tiếng gọi mơ hồ từ phía sau lưng. Nàng nín bặt. Một tiếng gõ cửa phòng thôi. Thật khẽ . Như quay phắt người lại...Nàng ào ra đón bắt bóng hình của chồng nơi chiếc màn đung đưa ở ô cửa sổ nhưng đó chỉ là ảo ảnh. Không còn gì. Không còn gì nữa... Chỉ còn lại bóng ngọn nến lung linh trên nền tường. Có cả bóng của bức tượng bán thân. Hình như nửa người đàn ông của bức tượng đang chuyển động, khẽ mấp máy môi. Nàng chạy tới, hai tay ôm trọn bức tượng bán thân. Nó nóng hổi, từ khoé mắt sâu thẳm của nửa người đàn ông rỉ ra giọt nước đen quánh như hắc ín nóng bỏng trên đôi tay run rẩy của nàng. Quá bất ngờ, nàng buông tay. Bức tượng đen bằng than đá vỡ vụn ra thành nhiều thỏi lô nhô dưới chân nàng!
Ngoài kia, đèn đường đã lại bật sáng. Thứ ánh sáng màu vàng như bao nhiêu ngọn đèn đường khác...

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2009

ĐIỀU KHÔNG THỂ NÓI

Được mùa truyện ngắn. Sáng tác mới của Huỳnh Thị Phượng ký danh Hoàng Phượng


Truyện ngắn của HOÀNG PHƯỢNG

Gần 40 tuổi, nàng đã từng đi qua một vài mối tình, nhưng chưa có mối tình nào bén duyên ở lại với nàng. Thuộc típ người lạc quan, nàng không lấy thế làm lo lắng, trong khi cha mẹ nàng thì lo ngay ngáy, sợ nàng làm bà cô suốt đời. Ngoài thời gian làm việc ở công sở, nàng dành thời gian đi thể dục thẩm mỹ, đi uống cà phê, nghe nhạc với bạn bè và lang thang trên internet. Nàng cảm thấy cuộc sống độc thân thật nhẹ nhàng, dễ chịu. Nghĩ tới mấy đứa bạn của cô bây giờ suốt ngày lo toan cơm áo gạo tiền, con cái tay bế, tay bồng; có đứa cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hôm nay đánh đập, ngày mai dắt nhau ra toà trong cái nhìn ngây thơ của mấy đứa trẻ vô tội mà nàng thấy ngán ngẫm…Nàng không nói ra với ai cái sự ngán ngẫm của mình, nhưng nàng quyết tôn thờ chủ nghĩa độc thân.
Nhưng rồi cái quyết tâm của nàng cũng bị lung lay và bị phá vỡ khi nàng gặp anh, một người ban đầu chẳng có gì làm nàng chú ý. Anh cao, hơi gầy với màu da ngăm ngăm đen của sóng và gió, lại hơn nàng gần cả mười tuổi. Nhưng rồi nàng bắt đầu để ý đến anh qua cách anh nói chuyện. Nàng phát hiện ra một điểm rất đặc biệt ở anh, đó là sự dí dỏm, khôi hài. Ban đầu nàng ngạc nhiên, sau đó nàng bắt đầu thấy thích vì điều đó làm cho anh có cá tính và dễ gần.
Một lần gặp gỡ duy nhất, một lần bắt tay duy nhất, vậy mà khi trở về nhà trái tim khó tính của nàng bắt đầu nghĩ đến anh. Cũng may, nàng có số điện thoại của anh, trước lúc chia tay họ đã kịp trao đổi cho nhau. Nàng đắn đo không biết có nên gửi tin nhắn cho anh và bắt đầu tin nhắn như thế nào! Trong lúc do dự, nàng nhận được tin anh chúc nàng ngủ ngon. Nàng hạnh phúc đến lặng người, vì nàng biết đó là tín hiệu của sự quan tâm. Cứ thế tin đến, tin đi và theo thời gian nàng biết anh đã có gia đình. Vợ anh trong một lần tai biến, đã trở thành người bệnh suốt đời. Một tay anh vừa chăm sóc người vợ bệnh tật, vừa nuôi hai con nhỏ, vừa lo công tác xã hội. Nghĩ đến anh, nàng cảm thấy anh thật thiệt thòi, nhất là trong cuộc sống vợ chồng, vừa thầm cảm phục anh là người chồng, người cha tốt. Từ cảm phục, tôn trọng, nàng yêu anh lúc nào không biết. Nàng đau khổ nhận ra sự ngang trái trong tình cảm của mình. Thỉnh thoảng anh cũng thường nhắn tin, gọi điện hỏi thăm sức khỏe của nàng, động viên nàng như với một cô em gái. Nàng cũng giấu đi những tình cảm thật của mình khi đối diện với anh. Nỗi nhớ anh làm nàng gầy đi trông thấy. Anh phát hiện ra sự ốm đi của nàng và nàng thường chống chế do mình dạo này biếng ăn. Những lúc như thế anh thường nhắc nhở nàng như một người anh trai. Sự ân cần, chu đáo của anh càng làm cho nàng đau khổ. Vốn là người hay nói hay cười, thế mà nàng thay đổi và trở thành một người khác hẳn. Nàng hay ngồi một mình với ly cà phê đen và thả hồn vào những suy tư. Có lúc nàng uống rượu một mình. Nàng biết uống rượu không tốt cho sức khỏe, nhưng nó sẽ làm cho nỗi khổ tâm của nàng lắng xuống và đưa nàng vào giấc ngủ sâu hơn, êm dịu hơn.
Lần đầu tiên trong đời nàng biết thế nào là tương tư. Trước đây, nàng đã từng được yêu, từng yêu, nhưng chưa bao giờ có cảm xúc như yêu anh. Trong những cuộc tình đó, nàng không có cảm xúc day dứt, nàng được quyền nói yêu hay khước từ. Còn tình yêu với anh, đó là điều nàng không thể nói. Theo cảm nhận của nàng, dù không có một hạnh phúc trọn vẹn, nhưng anh đang có một gia đình theo đúng nghĩa của nó. Ở đó, anh đang là người chồng, người cha đầy trách nhiệm, nàng không thể vì yêu anh mà làm cuộc sống của anh, của những thành viên trong gia đình anh bị xáo trộn. Nàng nghĩ một mình nàng đau khổ đã đủ. Không biết bao giờ thời gian mới làm cho nàng nguôi ngoai, mới quên được anh, nhưng nàng nghĩ thời gian luôn là phương thuốc màu nhiệm giúp cho người ta chữa lành mọi vết thương lòng.
Nghĩ như vậy, nàng thấy lòng nhẹ lâng lâng như chút nắng xuân đang trải nhẹ trong vườn. Sau bao tháng ngày day dứt, nàng đã chọn cho mình một lối đi, mà nàng tin đó là lối đi đúng nhất, cả cho nàng và cho cả anh nữa.

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2009

TRUYỆN NGẮN MI-NI

Lâu quá mới có một entruy gởi cho Văn Đà Lạt 11 của Trương Lin. Xin mời các bạn gởi cho nhiều nhiều...



TIỀN NHẶT
Truyện ngắn của MINH NHÃ

Nó thức dậy khi trong phòng không còn người nào, có lẽ tất cả đều đến thư viện, mùa thi mà. Bụng kẹp lép, túi trống rỗng, mấy chén cơm ký túc xá từ chiều hôm qua chắng bõ bèn gì với cái dạ dày sinh viên vốn chăm chỉ hơn cái đầu.
Trên đường đến thư viện, nó ước mơ một cái bánh mì, một ly cafe để yên tâm ôn bài đợi giờ cơm trưa. Hình như trời có mắt, bên vệ đường một tờ bạc năm nghìn đập vào mắt nó. Nhanh chóng tạt vào mộ quán cafe, điểm tâm sinh viên nó thoả mãn ước mơ của mình.
Ra khỏi quán, nó vừa di vừa huýt sáo bài “Chủ nhật tươi hồng”. Bỗng sau lưng nó có tiếng khóc trẻ con, rồi giọng hét gay gắt của phụ nữ:
- Tao gánh nước từ khuya đến giờ mới được năm ngàn, sai mày đi mua gạo mày quăng mất, trưa nay ăn gì hở con !
Nó cuối đầu bước nhanh, sau lưng tiếng khóc trẻ con đuổi theo.

ĐIỆN THOẠI
Truyện ngắn của MINH NHÃ

Anh rất dễ bị thức giấc. Một tiếng động khẽ trong đêm cũng làm anh tỉnh ngủ và khi đã tỉnh rồi thì rất khó ngủ lại. Vậy mà từ khi mắc được cái điện thoại riêng ở nhà, anh luôn bị quấy rầy.
Có khi hơn mười giờ đêm, điện thoại reng..reng...reng. Anh cầm máy, bên kia một giọng nhừa nhựa hơi men:
- Alô, Hùng hả ? Sơn đây mà, Hợp đồng ký xong chưa ?
- Anh nhầm máy rồi, đây không phải nhà anh Hùng.
- Rụp. Tiếng cắt máy bên kia phũ phàng.
Cũng có khi lịch sự hơn: “ Alô phải nhà chị Thuỷ không ?”.
- Không phải, chị nhầm máy.
- Vậy à, tôi xin lỗi. Cám ơn anh.
Và có rất nhiều lần như vậy. Có điều, những cú điện thoại đêm khuya thường báo những điều bất thường nên lúc nào anh cũng phải cầm máy và phải thức suốt cả đêm. Đêm nay cũng vậy, vợ đi công tác, vất vả lắm anh mới dỗ được thằng nhóc ngủ. Vừa chợp mắt, thì lại reng ...reng. Anh cầm máy, giọng đầu dây bên kia có vẻ hối hả:
- Có phải nhà con Lan, con Hương trọ học không ạ.
Đang bực mình, anh đáp đại: ừ phải.
- Anh báo dùm, mẹ nó đang cấp cứu ở bệnh viện tỉnh, cám ơn.
- Anh chưa kịp thanh minh, thì bên kia đã cúp máy. Nằm với con anh thầm mong có điện thoại gọi lại, song chẳng nghe reng...reng. Thêm một đêm thức trắng.

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2008

ĐÔI MẮT MÈO

Thêm một truyện của Tùng Chinh nữ sĩ

Truyện ngắn NGUYỄN CÔNG TÙNG CHINH
Chỉ vì yêu ánh mắt mà cưới nguyên một người phụ nữ
I
Tôi đã yêu, được yêu và bị yêu. Vậy nên tôi đau khổ vì yêu, hạnh phúc vì được yêu và bất hạnh vì bị yêu. Cái thằng tôi trong tôi đã bị dày vò lắm lắm.

Bắt đầu của một ngày nọ, ngày đẹp trời xanh trong, tại thư viện Đại học đường, tôi gặp nàng. Trời ạ, mắt nàng xanh biếc mở lớn dõi theo các kệ sách, cái thằng tôi trong tôi tê cứng người, chỉ còn biết há hốc mồm, đứng như trời trồng. Kể từ hôm đó, tôi thuộc về nàng- một giống cái có đôi mắt xanh biếc mở lớn. Nàng là con mèo cái của tôi, “đôi mắt mèo” của tôi : người thấp, béo tròn, hai gò má lấm tấm những nốt tàn nhang … Phải, tôi đã yêu đôi mắt mèo của nàng rồi cưới nàng cũng là vì đôi mắt mèo. Ít ra thì cũng chóng vánh khi tôi và nàng cùng tốt nghiệp đại học, cùng tìm mọi cách để được ở lại thành phố. Tạo hóa sinh ra Ađam là tôi và ÊVa là nàng cùng một khuôn mẫu như nhau : thông minh vừa phải , lanh lợi vừa phải, nói năng vừa phải … Chạy việc mãi thằng tôi mới xin được chân phụ việc văn phòng của một công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân. Còn nàng làm nhân viên bán hàng tiếp thị cho một cơ sở sản xuất dầu gội đầu không có tiếng trên thị trường. Kể cũng có phúc đức lắm rồi … Với nàng thì … hơi bất công vì dù sao nàng vẫn còn … có đôi mắt mèo rất xinh đẹp. Đôi mắt mèo đã gây bao sóng gió cho cuộc đời thằng tôi tỉnh lẻ …
Tháng đầu tiên chung sống, tưởng như tổ ấm chúng tôi là thiên đường, dù chúng tôi chỉ ở khu chung cư cấp 4 của thành phố. Đêm đêm tôi và nàng cuộn tròn lấy nhau sau cuộc mưu sinh vất vả cả ngày : đầu óc tôi căng thẳng còn chân nàng mỏi nhừ. Sau khi đã thuộc về nhau, đã mãn nguyện về nhau, tôi âm thầm ngắm nàng, làn da phẳng lì trắng nõn nà phập phồng nơi khuôn ngực, đôi mông tròn trịa vẫn thường nẩy lên khi tay tôi chạm vào. Thằng tôi chợt nghĩ : mông nàng có nẩy lên với bất cứ gã đàn ông nào chạm vào không ? Thằng tôi cảm thấy thích thú với ý nghĩ đó. Để chờ xem ! Và lại lấy tay chạm vào mông nàng, nàng lại nẩy người lên một cách đáng yêu. Thằng tôi cười khì khì. Thình lình mắt nàng xanh biếc mở lớn, thằng tôi bị hớp hồn, rùng mình và lại ôm ghì lấy nàng. Cứ thế … đêm đêm sau những cuộc mưu sinh vất vả, thằng tôi và “đôi mắt mèo” lại cuộn tròn lấy nhau.
Thêm một số ngày tiếp theo của tháng thứ hai kể từ ngày chung sống, nàng ôm về một con mèo cái có đôi mắt giống hệt đôi mắt mèo của nàng. Sao tôi có thể chịu được sự hiện diện của hai “đôi mắt mèo” cùng chung sống trong nhà ? Một là limh hồn của tình yêu, còn một là hiện thân của quỷ dữ, của sự rình mò đầy tội lỗi. Thử nhìn nàng và con vật mà nàng vừa ôm về. Cũng một đôi mắt mèo, khác chăng thân thể nàng phẳng lì, béo tròn, còn kẻ kia khoác bộ lông của loài mèo tuy êm mượt đấy nhưng hãy coi chừng ! Nàng lý sự : “Mèo bắt chuột cưng à ! Khu chung cư mình nhiều chuột qúa !” Biết nói gì hơn với lý sự dễ thương của nàng, thằng tôi chép miệng thở đài. Một đám mây đen vô hình khi đêm đêm tôi và nàng cuộn tròn lấy nhau.

Thoạt đầu con mèo cái nằm ở góc bếp hẹp. Nó rón rén, nhỏ nhẹ rình mò lũ chuột. Hình như một đôi lần nó có bắt được chuột . Chỉ có đôi lần thôi. Sau đó nó tiến dần vào phòng trên, mò sang ban công phòng bên cạnh của một cặp vợ chồng già và xuất hiện ở cửa phòng “tổ ấm uyên ương” của tôi và nàng. Nàng thích thú ôm lấy nó, sờ mó và tinh nghịch nó. Lũ mèo cái thường thích được vuốt ve hơn lũ mèo đực. Nàng cũng là con mèo cái thích được vuốt ve.
Dần dần thì con mèo cái đã nghiễõm nhiên chung sống với vợ chồng tôi. Thi thoảng sau những tiếng rên khe khẽ của nàng là vài tiếng “meo meo” của con mèo. Lúc đầu có thể ngộ nhận rằng : tiếng kêu của con mèo như một khúc nhạc đệm cho bản tình ca ân ái … song càng về sau tiếng kêu ấy chỉ làm tôi thêm điên tiết, thêm khốn khổ !
Tôi vẫn âm thầm ngắm nàng trong đêm, vẫn chạm tay vào đôi mông tròn trịa của nàng nhưng hễ người nàng nẩy lên vì thích thú, vì khoái cảm thì con mèo cái lại kêu ba tiếng “meo, meo, meo” để cảnh tỉnh. Nó hờn giận, ghen tuông hay chỉ đơn thuần là tiếng gọi bản năng của một loài động vật có vuốt khi đêm về yên tĩnh ? Chuyện này lặp lại khá nhiều lần, nhiều tới mức bố ai mà biết dược bao nhiêu lần ! Tôi chẳng còn sinh khí để tâm đến chuyện mơn trớn nàng nữa. Bóng đêm đã trở thành cực hình với chúng tôi. Khi gian phòng ngập ngụa màu đen tối ảm đạm, người tôi run sợ thật sự trước đôi mắt mèo xanh biếc mở lớn thèm khát của nàng và dưới chân giường kia cũng là đôi mắt sáng của loài mèo thực thụ. Tôi mất ăn mất ngủ, người suy yếu đi trông thấy. Đôi mắt mèo ám ảnh tôi ở công sở, trên đường đi xe buýt về, ở nhà vệ sinh, trên giường
ngủ … thậm chí trong cả những giấc chiêm bao tốt đẹp.
Ngày kia, rồi một chuyện đã xảy ra : Một con mèo đực lang thang đã gạ gẫm con mèo cái của nàng đi hoang. Gã mèo đực chực sẵn ngoài ban công và gọi mãi, ả mèo cái vờ õng ẹo vờn tới vơnø lui góc nhà rồi mới nhảy theo bạn tình … Với nàng chuyện này có ý nghĩa hết sức dặc biệt. Nàng có vẻ hụt hẫng, lơ đễnh trong các bữa cơm thường ngày, ít nói chuyện với chồng hơn. Còn tôi sướng rơn ra mặt : bản tình ca sắp đến không còn khúc nhạc đệm tai ác ấy nữa! Thằng tôi lại cười khì khì trong ý nghĩ … Đêm ấy tôi đã cố yêu đương nàng thật đắm say, nhưng một nửa của ám ảnh tội lỗi –nỗi sợ hãi cố hữu đã làm bản tình ca của tôi và nàng hoàn toàn dang dở. Thất bại tôi chống chế bằng giấc ngủ. Trong mơ, tôi thấy mình làmột sinh linh nhỏ bé, yếu ớt giữa một cõi vô cùng vô tận. Người tôi chơi vơi trong khoảng không của định mệnh. Hình như tôi có thấy một tia sáng rất nhỏ nhoi rồi nó lớn dần, lớn dần lên thành vệt sáng lớn … Tôi không còn tin vào mắt mình : tôi nhìn thấy những tia sáng tụ lại thành hình đôi mắt mèo ! Đôi mắt mèo của nàng hay của con mèo cái của nàng ? Tôi chưa kịp phân biệt thì một cơn lốc mạnh khủng khiếp cuốn phăng tôi vào vòng xoáy tia sáng đó. Đôi mắt mèo to lớn nuốt chửng tôi như miệng một con thú dữ khổng lồ bắt gặp miếng mồi ngon … Sợ quá tôi thét lên một tiếng. Giữa khu chung cư biệt lập mà tiếng kêu của một gã đàn ông như tôi là có vấn đề …
Hình như có tiếng người xì xào, vài tiếng lách tách mở khóa cửa, ai đó nghe ngóng và … tất cả lại im lìm như cũ.
Người tôi toát mồ hôi nhìn sang nàng. Hỡi ôi, thân thể nàng trắng nhờ nhợ không mảnh vải che thân. Vợ tôi ấy ư ? Tôi đang đi tìm cảm giác an toàn, nàng cừời khẩy : “Cái thằng làm chồng trong anh đâu rồi ? ”. Phải, nàng cười khẩy, nàng nặng lời với tôi lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng. Trong khoảnh khắc, tôi thấy nàng như con thú dữ, đôi mắt xanh biếc mở lớn đầy thèm khát dục tình của nàng là một cái gì tội lỗi ghê gớm. Tôi với tay sang người nàng, thay vì chạm vào đôi mông tròn trịa của nàng, không … tôi đã đưa tay sờ cổ nàng. Rồi vô thức thúc đẩy tôi nắm cổ nàng, lúc đầu cặp mắt mèo của nàng còn lim dim nhưng rồi tôi bóp mạnh, bóp mạnh dần … Nàng giãy giụa, tiếng kêu khùng khục phát ra từ cổ họng, hình như nàng giẫõy ra được, hình như nàng đã đá rất đau vào chỗ đau đớn kinh khủng nhất của bất cứ gã đàn ông nào … Hình như tôi ngất, tôi bất tỉnh … hình như tôi đã bị đưa đi đâu đó …

Trong đời tôi, sự việc xảy ra sau đó coi như là chấm hết ! Người ta đã tống tôi vào “nhà thương điên”như nhiều người vẫn thường gọi. Trốn ư ?. Một đêm, tôi đã từng trốn, chạy bộ mãi mới đến được đường ray xe lửa gần nhất cũng đã 2 giờ sáng. Nhưng bộ quần áo đặc trưng riêng của bệnh nhân tâm thần như tôi nào có thể trốn đâu được? Đứa bé bán hàng rong phát hiện, nó hét toáng lên … Vài người dân ở đó đã đem tôi trở lại khu điều dưỡng bệnh nhân tâm thần. Còn nàng ? Nhiều lần nàng có đến thăm tôi. Chúng tôi nhìn nhau : Thằng tôi trong tôi đang nghĩ gì ? Và nàng đang muốn nói gì với tôi ? Có thật nàng đã nói rất nhiều điều qua đôi mắt mở to buồn thẳm ?

Thực sự thì tôi đâu có yêu nàng, tôi chỉ yêu đôi mắt mèo của nàng. Và tôi đâu có bị điên, tôi chỉ là một thằng tôi như bao nhiêu thằng tôi khác
(Trích ký sự của bệnh nhân tâm thần phòng số 303A)

II

… “Thằng bệnh 303A”vừa có quyết định của bệnh viện tâm thần trả về điều trị ngoại trú, đã lần trở về khu chung cư ngày trước. Y thèm muốn gặp lại cô vợ trẻ, được âu yếm nàng …
Căn hộ của y ở tầng 3, đường lên cầu thang nhỏ hẹp, y gặp cơ man là người. Hết thảy họ là người quen cũ. Hết thảy họ đều gượng cười, hơi khép nép và phóng những tia nhìn ái ngại. “ Bọn họ đều nghĩ mình điên, nhưng mình điên cái quái gì được ? ” Y nghĩ thầm. Đứng trước cửa phòng “tổ ấm uyên ương”, y hơi xúc động … “Chắc nàng đang ngủ ngon giấc hay nàng đang nấu cơm? Tại sao nàng không đi đón mình?”.Cửa không khóa. Y nhẹ cửa muốn dành bất ngờ cho nàng. Nhưng … một cảnh tượng khiến y không còn tin vào mắt mình nữa : Trên giường, đôi mông tròn trịa của nàng đang nẩy lên như đánh đu, gã đàn ông nằm nghiêng chống cằm, ngắm hả hê thân thể nàng … Y há hốc mồm, đứng như trời trồng. Trước khi nhận ra gã đàn ông lực lưỡng kia là viên bác sĩ tâm thầm trực tiếp điều trị y, người y run rẩy với một ý nghĩ mới vừa lóe lên : mông nàng có thể hoàn toàn nẩy lên với bất kỳ gã đàn ông nào ! Nàng là mèo cái mà lũ mèo cái thường thích đựợc vuốt ve hơn lũ mèo đực. Và thế là y cười hơ hớ, cười rất lâu …
Thốt nhiên cô vợ trẻ thấy y xuất hiện bất ngờ, chị ta hoảng sợ thật sự, chân tay luống cuống, mồm lắp ba lắp bắp như lũ mèo thường ăn vụng bị chủ bắt gặp. Nhưng rồi nhìn thấy y cười một điệu cười vô hồn, thị cũng trâng tráo cười rũ rượi theo. Rồi thị khóc thảm thiết …
Viên bác sĩ tâm thần đã chuồn êm. Chỉ còn y và thị – hai khuôn mẫu của Tạo Hóa : chàng Ađam và nàng ÊVa. Y đỡ thị ngồi dậy, nhìn sâu vào hai hốc mắt vô hồn, trống rỗng, ngập đầy những nước là nước … Hai hốc mắt mà chỉ vài giờ trước đây, y đã nhớ, đã thèm muốn như ngày xưa vì chúng xanh biếc, to tròn, quyến rũ. Bỗng y đột ngột buông thị ra, đứng dậy bướctới bước lui ngắm nghía gian phòng cũ. Bỏ mặt cô vợ trẻ ngồi đó, đoạn y quay gót bỏ đi …

*
* *
… H. là người bạn học cũ của tôi mới cưới vợ. Đôi vợ chồng trẻ được phân căn hộ lô E2 của một khu chung cư trong thành phố. Tôi đến thăm nhà mới của vợ chồng anh. Thật là trùng hợp, thật là ngẫu nhiên, đây chính là căn hộ của đôi vợ chồng “Ađam và ÊVa”ngày trước … Câu chuyện tôi kể làm anh rất háo hức, tò mò … Nghe xong H im lặng trầm ngâm đến kỳ lạ !
Sau đó ít lâu, có dịp công tác ở thành phố, tôi gặp H. Trông anh bây giờ khá thành đạt, vợ chồng anh đã xây được ngôi nhà khang trang ở khu đất ngoại ô thành phố mới được qui hoạch. Như mọi khi, tôi và H. lại bù khú một trận say sưa … Vậy mà H., vẫn còn nhớ chuyện cũ.
Anh cho biết mới đây anh đã gặp lại “thằng bệnh 303A”. Theo lời anh kể lại, bộ dạng y đã khá hơn từ dạo ấy … Chẳng biết cuộc sống riêng của y đã thay đổi gì chưa và y đã làm gì để mưu sinh ? Song cuộc gặp gỡ không hẹn trước này đã để lại ấn tượng trong tâm trí anh … Y nhìn soi mói vào mắt anh như thể bác sĩ nhãn khoa tìm kiếm con bệnh rồi độc miệng tuyên bố một câu :
- “Hay ! Hay lắm ! Mi không phải là con mèo đực đã gạ con mèo cái của tao đi hoang !”
Nói xong y cười hơ hớ. Bước khập khiễng trên phố đông người. Anh nhìn theo bóng y khuất dạng sau tán lá cây trứng cá rậm rạp ở cuối con đường.

Tháng 3 / 1999

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2008

THẰNG HỒN VĂN CHƯƠNG

Truyện ngắn của NGUYỄN CÔNG TÙNG CHINH




KHỞI NGHIỆP MÙA XUÂN
Tiết trời xuân. Từ sáng sớm đã cảm nhận được gió mùa xuân ấm áp. Gió tràn qua từ bên kia đập, mang theo hơi nước không mát lạnh mà nồng ấm mơn man khắp da thịt. Gió làm thức tỉnh người bộ hành cái mùi ngai ngái của đất ướt đẫm sương đêm, của cỏ dại, mùi hăng hắc của phân ngựa, phân bò nằm lô xô trên đường. Bóng những con người bắt đầu xuất hiện. Đa số họ đi chợ sớm để bán mớ rau củ trong vườn. Khu này gần chợ mà vẫn giữ được cái tĩnh lặng của một xã đồng quê xa dân cư. Kim Xuyến thầm nghĩ.
Gió rối rít đuổi theo chân cô. Khi cô kết thúc buổi đi bộ tập thể dục về đến nhà là trời cũng vừa tảng sáng. Cô dừng lại trước nhà tháo đôi giày vải Bitis ra để ngay ngắn trước cửa nhà.
- Cạch, cạch, cạch.
Tiếng động quen thuộc khiến cô mỉm cười. Một thằng người ngồi ở bậc tam cấp chờ cô tự bao giờ: Cái đầu tròn to láng bóng ánh kim, khuôn người hẹp và mảnh. Một cây bút bi dài bằng cả thân hình, đầu bịt bạc thếp vàng luôn đeo dính ở bàn tay bên phải. Thói quen của thằng người là gõ cây bút bi luôn đeo dính ở bàn tay bên phải vào đầu nó để tạo ra âm thanh lạ tai - thứ âm thanh của lời chào đầy thiện cảm.
Kim Xuyến đưa tay nâng thằng người. Nó đu lên ngay để vào nhà. Cô để thằng người ngồi ở băng thế dài cạnh bàn viết lớn bằng gỗ rồi bắt đầu pha cà phê. Một tách cà phê cho thằng người và một cho cô. Trong khi cô nhấm nháp cà phê, thằng người khẽ đảo hai con mắt là viên bi kim loại theo chiều kim đồng hồ đến mấy lần. Ở vị trí miệng là cái khe sâu hút đen ngòm. Chắc là cười. Vì sau cái gọi là cười, cái khe miệng biến mất, nơi đó chỉ còn mặt phẳng nhẵn thín. Chỉ có cô nhìn thấy những nét riêng ở thằng người. Nói khác đi mọi việc đều diễn ra trong ý nghĩ của cô. Mà Kim Xuyến còn bận bịu với nghề viết nữa là. Cô làm việc ở tòa soạn báo thành phố. Thế cho nên thằng người nghiễm nhiên là bạn Kim Xuyến rồi - bạn văn chương. Cô nói thầm: “Thằng hồn văn chương!”. Điều này cũng chỉ diễn ra trong ý nghĩ mà thôi. Vì ý tưởng buổi sáng bao giờ cũng khôi hài và phong phú.
Một tiếng gõ cửa. Chị Nhiên hàng xóm sang mượn cây cuốc dẫy cỏ dại mọc trước hè. Chị Nhiên trố mắt ngạc nhiên khi thấy Kim Xuyến ngồi uống hai tách cà phê, lại gật gù nói chuyện có một mình. Ra đến cửa rồi mà chị Nhiên còn lấm lét, quay lại nhìn trộm lần nữa. Kim Xuyến tỉnh queo, cười mỉm. Cô nhớ lại vài tuần trước đó, một người bạn đồng nghệip ở tòa soạn báo đến chơi. Anh ta cũng trố mắt như thế. Tin đồn thổi nhanh: Kim xuyến có “người tình trong tranh”. Ý họ muốn nhắc lại chuyện một chàng trai mê đắm tiên nữ giáng trần trong một câu chuyện huyền thoại: “Bích Câu kỳ ngộ” xa xưa.
Mà người ta đồn cũng đúng thôi. Kim Xuyến đã hai mươi chín tuổi mà chưa nhận lời dạm ngỏ cùng ai. Cô thích sống một mình, phóng túng tự do. Vả lại, cô nghĩ, đàn bà gắn vào nghiệp viết không nên vướng bận chuyện chồng con, bếp núc. Cứ nhìn những thau quần áo trong nhà tắm, hay đống chén bát để mấy ngày mới rửa cũng đủ thấy bản lĩnh của nữ sĩ Kim Xuyến rồi.
Uống xong tách cà phê, Kim Xuyến ngồi vào bàn viết. Cô viết chậm và chắc. Ý tưởng mới mẻ, táo bạo. Mỗi khi đắc ý, cô dừng lại, nhìn thật lâu thằng hồn văn chương. Nghe tiếng “cạch, cạch, cạch” lại thấy lòng ấm lại, vui vui...

CHUYỆN NGÀY HÈ
8 giờ sáng. Chuông điện thoại reo lần thứ nhất. Không có ai nhấc máy. Không có con người. Không, hình như là có một thằng người - một thằng người kim loại. Có thể nó mới xuất hiện hoặc đã hiện diện từ lâu. Nó ngồi ở ghế sofa trong phòng khách. Ghế sofa đắt tiền thật. Nhưng không phải là cái bàn viết bằng gỗ như mọi khi mà nó thích ngồi.
Thằng người ngồi đó và nhìn một lượt khắp gian phòng...
9 giờ sáng. Chuông điện thoại reo lần thứ hai. Không có ai nhấc máy. Một thằng người kim loại cũng biến mất. Nó đứng dậy và đi đâu tự bao giờ?
9 giờ 30 sáng. Chuông điện thaọi reo lần nữa. Lại không có ai nhấc máy. Có một thằng người đang ngồi cạnh Kim Xuyến. Nó lặng lẽ quan sát tư thế của gnười đàn bà đang ngủ. Có vẻ như cô ta mãn nguyện, hài lòng. Khuôn miệng trễ ra như cười. Mũi nhỏ và thẳng. Vầng trán cao rộng, hơi dô ra. Rất bướng bỉnh và nhiều tham vọng.
Chuông điện thoại reo giòn giã. Cả điện thaọi di động nữa.
- A lô! Tòa soạn báo “Bình Minh” đây. Chào buổi sáng. Tạp chí tháng này dành đất cho bài viết của chị đấy nhé. Vâng, vâng... Chúng tôi đã lên khuôn rồi chờ bài chị thôi.
- A lô! Ờ, không. Anh T.V.T Phó tổng biên tập vẫn đang chờ bài viết của chị. Viết “mạnh” vào nhé. Thêm “lửa” vào...
Nghe xong mấy cú điện thoại, Kim Xuyến tỉnh ngủ hẳn. Khoảng 10 giờ sáng. Nữ nhà văn bỏ thói quen đi bộ buổi sáng. Toàn thân cô căng thẳng nhức mỏi. Tối qua, cô đãi tiệc nhân dịp được giải thưởng Văn nghệ trung ương. Thành công quá bất ngờ. Kim Xuyến chưa hề nghĩ mình viết được cái gì hay ho. Giải thưởng văn học lần này là lần thứ ba mà cô nhận được. Họ bảo những chuyện ngắn mới mẻ của cô gây chán động báo chí. Báo chí mê truyện cô vì cô viết quá “lửa”, quá sex. Và thế là các tạp chí mùa hè thi nhau đặt hàng nữ sĩ Kim Xuyến.
Trong làng văn, người ta có thể đưa anh lên mây xanh rồi cũng có thể vùi anh xuống tận cùng vực thẳm. Mình chẳng là “sao” nhưng cũng nên cảnh giác đề phòng “bệnh sao”. Cô dặn lòng mình vậy và trở mình qua bên phải, nhìn mọi vật trong phòng. Căn phòng đã được “rờ - tút” trước mùa hè bằng các vật dụng đắt tiền. Rèm cửa đăng ten Pháp. Ghế sofa giả gỗ Đức. Các món đồ cổ “hàng độc” Trung Quốc. Thảm trải sàn hoa văn dân gian của nga... đó là thành quả mà cô kiếm được.
Tạp chí Bình Minh có số phát hành lớn. Nhuận bút phải đến hơn mười triệu đồng một bài được đăng. Chưa kể sau khi đăng lần một, Kim Xuyến gửi cho các báo vùng, địa phương tỉnh cũng vẫn còn kiếm được mớ nữa. Rồi sau đó thì in tập. Kim Xuyến đã có tập in riêng. Vào cái thời mà Công ước Bern có hiệu lực, bản quyền của Kim Xuyến được các nhà xuất bản chào giá rất cao. Sở dĩ bản quyền của Kim Xuyến cao còn nhờ ở tên tuổi nổi như cồn của cô. Kim Xuyến học được kỹ thuật tự đánh bóng tên tuổi của một số nhà văn thuộc lớp đàn anh thời thượng. Trong vòng một thời gian ngắn, những truyện đầu tay của Kim Xuyến lập tức gây tiếng vang lớn, làm sôi động thị trường sách...
*
* *

Thời khắc của ngày hè thường mau trôi qua... Mùa hè nóng bỏng không chỉ vì thời tiết nóng nực mà “nóng sốt” vì những sự cố của con người.
Bây giờ thì Kim Xuyến không viết chậm mà cực kỳ nhanh.
Cô đọc lướt các báo, đọc các truyện ngắn rồi tổng hợp, xào nấu rất nhanh để tạo ra được một đến hai cốt truyện trong một ngày. Kỹ nghệ viết truyện ngắn của cô nay đã đạt đến tốc độ chóng mặt.
Không còn thời gian để nhấm nháp cà phê như mọi khi.
Không bạn bè chân chính. Không bình luận, mạn đàm về thứ văn chương chân chính.
Không cả thói quen gật gù với cái thằng người văn chương. Mà chiếc bàn viết bằng gỗ dổi đã được thay thế bằng bộ bàn ghế đắt tiền.
Thằng người - thằng Hồn văn chương cảm nhận mọi thứ đã thay đổi. Nó lẳng lặng quan sát trong im lặng. Không còn thói quen đánh động bằng tiếng “cạch cạch” gõ cây bút bi luôn đeo dính ở bàn tay bên phải vào cái đầu to tròn sáng bóng.
Kim Xuyến thu chân xuống giường. Không nhìn thằng người. Nói đúng hơn, cô không còn để ý gì đến thằng người nữa.
Đúng lúc ấy, những con chữ lũ lượt ở đâu kéo về nhêìu vô kể. Cứ như những con còng gió, chúng ào vào nhà giữ rịt Kim Xuyến vào bàn viết. Lũ chữ cái không thua gì lũ quỷ hiện hình trong đêm. Chỉ khác là chúng xuất hiện dữ tợn vào ban ngày. Lũ chữ cái chỉ huy cô, tuồn chữ vào tai, mắt và cả mũi cô...
Thằng người đang ở phía sau Kim Xuyến. Nếu như có thể được, cô ta hãy quay lại đi thì có lẽ... Thằng người sẽ vung cây bút bi gõ vào đầu ba tiếng để xua đi lũ chữ cái vô liêm sỉ kia. Nhưng cô chủ đã không quay lại lần nào...
Thằng kim loại thất vọng, chậm rãi lắc lư, đu đưa cái thân hình mảnh và hẹp tiến ra phía cửa chính. Nó xa dần. Cái bóng tròn to của cái đầu ánh kim thấp thoáng sau khung cửa kính và tiếng kêu “cạch cạch” còn vọng lại không ngớt…
ĐOẢN KHÚC THU
Đang độ cuối thu. Tiết trời vẫn thích hợp cho những cuộc vui chơi đầy màu sắc lãng mạn. Xa rồi những tiệc tùng đông người. Xa rồi những bộ cánh rực rỡ bắt mắt trong đêm. Nữ nhà văn của chúng ta thường ở tại nhà suốt cả buổi tối. Có thể vì cô không thích tham gia hội hè nữa. Có thể vì bây giờ cô cũng không còn là nhà văn hạng “Top Ten” của đám báo chí rầm rộ đưa tin một thời. Một nhà văn rớt hạng, lỗi thời. Kim Xuyến chua chát thở dài. Nghe cái lạnh cuối thu tràn về qua ô cửa nhỏ. Chút se lạnh làm cho con người ta thường suy tư về mùa, về năm, về quá khứ – hiện tại và tương lai.
Căn phòng trở nên ấm áp vì ánh sáng màu vàng, màu nâu đỏ phản chiếu từ các loại đèn trang trí bố trí khéo léo. Kim Xuyến có niềm kiêu hãnh riêng của mình để không phải buồn lâu hơn. Các tủ sách, giá sách và minh chứng cho điều đó. Chưa đầy bảy năm mà Kim Xuyến có tập in riêng đáng tự hào. Vài chục đầu sách với hành trang văn nghiệp của một nữ sĩ mới ngoài ba mươi. Thật xưa nay hiếm! Trừ mấy tập đầu tư in có vẻ giản dị, còn lại trang bìa phối trí kiểu chữ và tông màu gây ấn tượng hiện đại.
Người ta thường nuối tiếc một thời vàng son để kiểm định giá trị của bản thân.
Cô lật qua vài trang sách của một thời vàng son trong quá khứ. Dư âm ngọt ngào. Vinh quang và cay đắng chăng?
* *
*

Gió thu se lạnh.
Vài tiếng động sột soạt, nhè nhẹ ở rèm cửa sổ, trên bờ tường. Có thể là tiếng bước chân của những loài côn trùng ăn đêm.
Gió cuối thu dội về trong đêm càng lúc càng dữ dội hơn.
Lũ chữ cái từ trong các ngăn tủ, giá sách bò ra đầy nhà. Như lũ kiến trước cơn mưa dông. Từng con chữ kéo đi, cõng nhau chui qua lỗ thông gió, qua khe cửa để ra ngoài.
Kim Xuyến bật dậy. Điều đầu tiên, cô nghĩ rằng mình vừa trải qua một giấc mơ. Căn phòng vẫn im ắng. Nhưng các tủ sách, giá sách đã mở toang. Các trang sách in tập của cô trống hoác, trắng tinh. Không một con chữ. Trừ những tập đầu tay, những con chữ lầm lì vẫn đóng đinh ở đó. Giữa những trang sách đầu tay là khuôn dấu của một hình người đầu hơi lớn cầm cây bút rất dài như một vị Thần hộ mệnh: Vị thần giữ chân những con chữ ở lại.
Đến lúc này thì Kim Xuyến mới vụt nghĩ đến thằng người – bạn văn chương của cô. Cũng là lúc cô ta mới lắng nghe được tiếng “cạch cạch” quen thuộc nhỏ nhoi, yếu ớt.
Kim Xuyến bước ra ngoài…
ĐOẠN KẾT MÙA ĐÔNG
Kim Xuyến quì gối cạnh thằng người. Cài đầu to nhăn nhún của nó không còn sáng màu ánh kim. Nó run rẩy, hấp hối từng cơn. Cô đặt thằng người xuống bãi đất rộng cạnh nhà. Hình như cô không chờ đợi điều này: Những sợi khói mỏng tang từ khuôn hình thằng người bay lượn trong không trung, dày đặc lên rồi lại tản ra, nhạt dần. Phút chốc, khuôn thằng người chỉ còn là đường thẳng mờ mờ, trăng trắng hòa tan vào Đất Mẹ…
Một ngày mùa đông rét mướt, thằng Hồn văn chương không còn nữa. Nữ sĩ Kim Xuyến nghe nhói đau ở vùng ngực. Có cả tíeng lòng hối hận. Nhưng đã muộn mất rồi…

Thứ Năm, 26 tháng 6, 2008

MIẾNG LÓT GIÀY

Truyện ngắn của NGUYỄN CÔNG TÙNG CHINH

Tùng Chinh nữ sĩ hứa gởi truyện mới cho Văn Đà Lạt 11 mãi mà chẳng thấy...
Đành phải scan cái truyện đã in hồi lâu lắc...cho mọi người đọc chơi. Ai đọc không ra thì cứ click vào chờ hình lớn hơn mà đọc. Có hư mắt thì cứ trách người không chịu gởi truyện, đừng trách kẻ quản trị blog này.




Thứ Sáu, 6 tháng 6, 2008

NHỮNG BÓNG KHÓI MÀU DA CAM


Truyện ngắn của NGUYỄN CÔNG TÙNG CHINH



Tặng những nạn nhân chất độc da cam. Tri ân với một người anh, người bạn


Chiều tàn. Dường như trước khi chạy trốn khỏi buổi chiều, mặt trời đã kịp để lại phía tây những cuộn mây bồng bềnh ánh hồng.

Ráng chiều ửng đỏ cả bầu không.

Dưới bầu trời lung linh sắc màu như thế, đám trẻ con khu phố mải miết chơi bắn bi, đá banh và thả diều. Chúng hò hét ầm ĩ. Người lớn ở khu phố này nhìn chúng và mỉm cười độ lượng.

Có một người lớn nữa. Đó là một người đàn ông trung niên đang phóng cái nhìn từ khu nhà chung cư cao tầng. Chiều nào cũng vậy, người đàn ông cũng ra đứng ở ban công ngắm cảnh chiều tà và lũ con trẻ chơi đùa. Đã hơn nửa tiếng đồng hồ rồi mà ông không rời mắt khỏi bọn trẻ. Ông nhìn lũ trẻ bắn bi với vẻ tò mò, thích thú. Nhìn từ xa nên ông không biết những viên bi có màu gì nhưng chắc chắn là chúng phải nhiều màu, trong veo dưới ánh nắng chiều còn sót lại. Những viên bi nhiều màu, trong veo gợi nhớ tuổi thơ xa xăm của “Tí đầu đinh” (tên ngày nhỏ của ông).


Gọi là Tí đầu đinh vì tóc nó cứng, đen nên nó chỉ húi ngắn, tóc cứ dựng đứng lên như đầu đinh vậy. Nó sinh ra trong một gia đình đông anh chị em ở một làng quê nghèo thuộc cao nguyên nam phần. Như nhiều làng quê nghèo của Việt Nam thời chiến tranh, làng quê của nó nhỏ như lòng bàn tay nhưng rất kiên trung với cách mạng. Trai tráng ở làng đều ra rừng khi còn ít tuổi. Người thì mài mòn chân đất theo dân công, cõng gạo trèo năm truông, bảy suối. Người thì dành dụm từng nắm rau, hạt muối gửi nuôi những đứa con của rừng. Hai anh đầu của nó ra rừng rồi không về nữa… Chiều chiều, mẹ nó nhen bếp lò, hong manh áo sờn vai của các anh, nhìn mưa đầy trời, nước mắt cứ chảy ngược vào trong. Mẹ nó lại cặm cụi với vườn rau quanh năm suốt tháng.

Nó học tiểu học ở trường làng Xuân Sơn. Rồi gia đình nó phải chuyển đi Đức Trọng vì liên tục tù đày. Nó và đứa em họ bằng tuổi ở làng đi học, chăn bò và giữ vườn. Hằng tuần, ba mẹ nó mang gạo và thức ăn về một lần. Thời đó, chiến tranh ác liệt. Ký ức tuổi thơ của nó là thường xuyên ăn gạo sống, không tắm rửa và sợ ma. Nó còn chết hụt hai lần vì đạn. Nó là thủ lĩnh bắn bi của đám trẻ con làng. Sau mỗi lần chơi ăn bi, nó lại chia đều cho bọn trẻ con trong xóm. Nó rửa bi thật sạch, lấy giẻ lau chùi rồi giơ từng viên bi lên ngắm nghía dưới nắng mặt trời. Ui da! Những viên bi đủ màu, tròn xoe lung linh dưới nắng. Nhìn mãi không chán, mỗi lần nhìn nó đều phát hiện màu của viên bi hình như khác hơn, đẹp hơn. Bi ve đã trở thành niềm đam mê của nó và bọn trẻ…

Người đàn ông mỉm cười khi nhớ lại quá khứ của mình. Phải rồi, bi ve là niềm đam mê nhưng ông còn nhớ, trẻ con làng ông chiều chiều lại còn thích chạy lên những đồi con để thả diều, nhìn mây trôi… Cánh diều đem theo bao ước mơ của con trẻ lên bầu trời lộng gió. Diều ngày xưa không công phu, nhiều màu sắc như bây giờ. Ông nhìn đám người lớn, con trẻ đang thả diều dưới kia. Diều nào cũng đẹp, đủ kích cỡ, màu sắc sặc sỡ: cánh bướm, cá vàng, rồng bay, phượng múa… Cứ như các nghệ nhân đang khoe tài sắc trong hội thi diều cung đình Huế ngày xưa. Hầu hết chúng được phối trí các tông màu đỏ, hồng, da cam, xanh lá… bay dìu dặt trên nền trời. Đẹp và thanh bình quá! Người đàn ông khẽ reo thầm. Ráng chiều nhuộm đỏ các cánh diều làm cho chúng thêm huyền hoặc. Ông thấy mang máng một cái gì, mơ hồ một điều gì chưa rõ nét…

Còn nó vẫn là thủ lĩnh của đám con trẻ ở làng. Nó là kẻ đầu têu của những chuyện kỳ quái nghiêm trọng. Nhiều đám trẻ trong làng mê bong bóng nhiều màu, bi ve, ngựa gỗ. Riêng nó cùng dăm bảy đứa chạy lên đồi, thích thả diều thì ít mà mê mải ngóng chờ những chiếc máy bay ngang qua khu đồi vào buổi trưa. Người làng nói với nó là người Mỹ đã rải thứ chất khai hoang gì đó có thể giết chết những đứa con của rừng. Họ phun chất khai hoang bằng máy bay ở tầng thấp, vào ngày nắng lớn. Dưới bụng máy bay ở phía sau phả ra hai luồng bụi nước lớn có ánh cầu vồng mà màu cam là đậm nhất. Mỗi khi máy bay ngang qua đầu, lũ trẻ hò reo vui sướng. Nó cố rướn người cao hơn cả bọn để đón lấy những hạt bụi nước li ti, những mong sẽ chạm tay vào ánh cầu vồng có màu cam đậm nhất. Sau mỗi đợt rải chất khai hoang, quần đảo chán trên bầu trời, những chiếc máy bay biến mất. Không còn ánh cầu vồng rực rỡ. Không còn những bóng khói màu cam. Lũ trẻ buồn thiu trở về, rộn ràng bàn tán, lý giải về những bóng khói màu cam vừa xuất hiện. Nhiều đứa hôm sau kể lại, những bóng khói màu cam đã chập chùng trong giấc ngủ tinh khôi của chúng.

Ráng chiều vẫn đỏ rực.

Người đàn ông như nhớ lại một điều gì. Ông chậm chạp bước vào phòng. Tựa hẳn vào cửa kính. Thế rồi từ cái mơ hồ mà ông cảm thấy đã thành sự thật: những cuộn mây ánh hồng bỗng quần tụ lại với nhau tạo thành đám khói lớn đậm đặc màu da cam, làm chao đảo mọi cánh diều. Cơn lốc màu da cam ấy bay vụt vào nhà. Người đàn ông đã không kịp đóng cửa.

Ông ta hét lên một tiếng.

Cơn lốc màu da cam làm đổ bình hoa, ly tách, quét sạch các thứ trên bàn lớn. Sách báo rơi vãi xuống sàn nhà… Sau phút chốc, đám khói da cam bay thốc ra khỏi nhà, để lại người đàn ông đang ngồi phệch xuống sàn nhà bên góc tủ, tay vịn thành giường. Ông bất động thẫn thờ…

Chiều chiều, nó vẫn chạy lên đồi ngóng những bóng khói màu cam. Nó vẫn rướn người cao hơn cả bọn để đón lấy những hạt bụi nước li ti, những mong sẽ chạm tay vào ánh cầu vồng có màu cam đậm nhất. Đợi những bóng khói màu cam tan xong, nó vẫn chưa thỏa lòng. Đêm còn theo về chập chùng trong giấc ngủ.

Quê nó nằm trong vùng tạm chiếm. Nỗi ám ảnh chiến tranh luôn thường trực trong bữa cơm hàng ngày. Chiến tranh đã cuốn theo con người mọi thứ: tình yêu, tuổi trẻ, những mơ ước xa xăm…

Tháng 1 năm 1973, nó phát bệnh. Mặt và toàn thân nó bỗng nhiên căng nứt, chảy nước nhầy nhụa. Nó phải nằm đợi sáu ngày sau, ba nó về đưa đi bệnh viện Đà Lạt. Hai mươi ngày sau, nó xuất viện với di chứng còn lại là những đốm nước ở mười đầu ngón tay, sau đó cứ lan dần, lan dần ra mãi…

Mùa hè năm ấy, lũ bạn nó cứ thập thò ngoài cửa. Nó biết bọn chúng nhớ da diết những bóng khói màu cam. Nỗi nhung nhớ ngây thơ hiện rõ trên nét mặt. Một hôm, không cầm lòng được, nó gọi thằng Bi Đen, Bi Trắng, Bi Tím (nó thích đặt tên lũ bạn bằng tên các loại bi ve yêu thích):

- “Tụi bay lên đồi đi. Coi những bóng khói màu cam có gì khác không về nói lại tau với. Tau bịnh chưa đi được”.

Lũ bạn lắc đầu quầy quậy nói rằng khi nào Tí khỏi bịnh sẽ cùng đi luôn. Nhớ thì cùng nhớ chớ không sao đâu Tí ơi!

Những chiếc máy bay tiếp tục quần đảo trên bầu trời, ngang qua khu đồi vào buổi trưa hè để phả xuống khu rừng những luồng bụi nước đậm đặc chất khai hoang ánh lên cầu vồng những bóng khói màu da cam. Lũ trẻ con không còn hò reo vui sướng khi máy bay ngang qua đầu nữa. Mùa hè năm đó, bệnh nó không thuyên giảm mà bùng phát nặng thêm. Bọn thằng Bi Đen, Bi Trắng, Bi Tím… cứ theo giữ chân nó hoài vì sợ nó tự tử.

Sau rồi, mọi chuyện đã qua, lũ trẻ ở làng lớn lên, phân tán mỗi đứa mỗi nơi. Nó vẫn còn ở lại làng Xuân Sơn trong cái nắng oi bức của mùa hè đầy bão táp. Nó đâu ngờ rằng: mùa hè năm đó đã khép lại một tuổi thơ dữ dội khởi đầu cho 34 năm chịu đựng tàn khốc của cuộc đời!

Điều lạ lùng là tiếng hét của người đàn ông không làm cho người hàng phố ngạc nhiên chút nào. Bọn họ nhìn lên căn hộ chung cư ở tầng ba - nơi phát ra âm thanh quen thuộc đó, lắc đầu ái ngại. Với họ, chuyện người đàn ông thỉnh thoảng hét lên giữa ban ngày không có gì phải ngạc nhiên. Ông ta bị stress, bị ám ảnh, bị chấn động bởi bom đạn trong quá khứ… Đại loại là vậy thôi!

Chỉ có chị là hiểu ông lặng thầm. Chị hiểu nỗi ám ảnh trong quá khứ của ông. Như mọi lần, chiều nay khi ông hét lên như thế, chị đang nấu bếp. Vội cởi tạp dề, chị chạy vội lại dìu ông ngồi xuống giường, pha cho ông ly chanh nóng và khuyên ông hãy nằm nghỉ ngơi một lát. Chị dỗ dành ông như dỗ dành một đứa trẻ con thích nũng nịu với mẹ.

Gần 5 năm chung sống với ông, chị vẫn chưa hiểu hết ông. Có nhiều bí mật của ông vừa hé mở ra rồi lại đóng khép lại ngay trước mắt chị. Cuộc đời lạ lùng, đau khổ của ông gieo vào chị niềm cảm thương sâu sắc.

Chị kém ông đến 11 tuổi. Hai người cùng làng Xuân Sơn. Câu chuyện về ông, chị chỉ nghe kể lại nhưng đã thầm cảm mến. Anh chị của chị và của ông đều học ở trường dòng Domaine và Minh Đức. Đến lớp 12, ông phải nghỉ một năm để trị bệnh. Sau đó, ông nghỉ thêm mấy năm nữa. Chị không biết tin tức gì về ông kể từ ngày ấy.

… Thời học Đại học, chị bất ngờ gặp lại ông. Ông là bộ đội vừa mới phục viên. Vẫn mái đầu húi cao gọn gàng, gương mặt nghiêm nghị. Cái cười từng trải hiện rõ qua nếp nhăn nơi khóe miệng. Da mặt không được mịn màng lắm với những vết sẹo nhỏ lỗ chỗ như người bệnh vừa sau trận thủy đậu dài ngày. Họ nhận đồng hương và nhanh chóng thân thiết nhau.

Thoạt đầu, ông coi chị là em gái nên kể nhiều chuyện cho chị nghe. Ông kể về tuổi thơ dữ dội của ông, về giấc mơ những bóng khói màu cam, về nỗi ám ảnh trong quá khứ với căn bệnh quái ác thường xuyên tái phát.

Sau giải phóng, tình hình đất nước khó khăn, không có thuốc, bệnh càng bùng phát nặng hơn. Ông đã đi nhiều nơi, khám bệnh nhiều chỗ, kể cả các chuyên gia hàng đầu ở hải ngoại nhưng bệnh vẫn không thuyên giảm.

Năm 1982, bác sĩ đầu ngành da liễu Việt Nam nghi ông bị chất độc da cam. Có thể không phải nhưng nó trở thành nỗi ám ảnh! Nỗi ám ảnh không chỉ là quá khứ xa xăm của một tuổi thơ dữ dội mà trở thành tảng đá đen, mặt trời đen tối đè nặng tâm trí ông.

Có lần chị hỏi:

- “Sao anh chưa vợ con gì?”

Ông cười khô khốc:

- “Ồ, chưa đâu em. Nếu có con và nó bị ảnh hưởng thì anh phát điên! Anh chưa bao giờ dám xem một bài báo hay chương trình truyền hình nói về chất độc da cam. Anh cũng muốn có một đứa con nếu khỏi bệnh. Đến lúc nào đó rồi hẵng hay em ạ!”.

Giọng ông trầm hẳn xuống nhưng cứng cỏi, rất từng trải. Chị thấy lòng mình vừa cảm phục, vừa mến thương.

Về sau, chị còn biết thêm một lý do nữa khiến ông chần chừ không chịu lấy vợ. Hồi học đại học, ông đã uống Desamethasone đến bốn năm mà không biết. Thuốc đó làm ông giảm hẳn khả năng đề kháng. Những người uống cùng đợt với ông, nay không còn ai. “Được như anh bây giờ là quý lắm rồi! Hồi tuổi hai mươi, anh nổi loạn, trác táng, bất cần đời. Anh yêu rất nhanh các cô gái rồi cũng bỏ rơi họ một cách nhanh chóng. Phần nhiều các cô tự rơi vào vòng tay anh, chủ động đến với anh. Anh yêu họ nhưng cũng chán ghét họ, chán ghét ngay chính bản thân mình… Tuổi hai mươi của anh là vậy đó. Em có thấy anh xấu xa không em?”.

Không. Chị đã không ghét ông. Đã năm năm rồi còn gì kể từ khi chị lấy ông. Năm năm rồi chung sống với ông mà không dám rời xa Capôt. Chị vẫn ao ước có con với ông. Nhưng chị cũng hiểu ông, sợ ông bị tổn thương. Thôi, đành vậy…

Chị nhìn ông đang thiếp đi. Bên ngoài kia trời đã sập tối. Bóng tối bao trùm mất rồi. Nhìn về phía tây, chị tự hỏi: không biết mặt trời đi ngủ có phải là mặt trời đen không? Vì đó là bài hát yêu thích của ông và các bạn sinh viên thời tuổi hai mươi nổi loạn… Giai điệu kỳ dị của bài hát “Mặt trời đen” gieo vào chị một nỗi buồn thương khó tả cho một kiếp người:

“Mặt trời đen, quá đen, đen như đời ta… Sao ta vẫn thấy mặt trời đen như mực. Mặt trời đen, đen như ma quái… Ah!... Ah!... Ah!... Ah!...

Có lẽ sự chịu đựng tàn khốc nhất của nó là giấc mơ về những bóng khói màu cam khi bệnh mới bùng phát. Mặc cho thân thể đau nhức, bỏng rát, chảy nước nhầy nhụa, đầu óc nó vẫn nung nấu nhớ về những buổi chiều chạy lên đồi cùng lũ bạn ngóng chờ bóng khói màu cam.

Nhiều đêm rồi, những đốm sáng màu cam vẫn chập chờn trong giấc ngủ. Nó mơ thấy: Nó và lũ bạn chạy theo những đốm sáng ấy. Chạy miết, chạy miết đến một khu rừng rậm. Thoạt đầu, những đốm sáng da cam lúc ẩn lúc hiện, sau rồi chúng mất hút. Khu rừng rậm đen tối bao quanh nó và lũ trẻ. Từ các cành cây cổ thụ già nua, những gai nhọn dài ngoằng đâm ra tua tủa, bấu chặt bọn trẻ. Nó cố hết sức kéo những gai nhọn ra mà không được. Những gai nhọn vẫn bấu, lún sâu vào da thịt nó. Nó sợ hãi khóc rống lên!

Nó đâu biết là ngay trong giấc mơ, nó vẫn phải chịu đựng nỗi đau đớn, sợ hãi đến tột cùng! Chuyện này lặp lại hằng đêm trong suốt cuộc đời còn lại của nó…

Nửa đêm, người đàn ông thức giấc. Ngứa khủng khiếp. Những cơn ngứa bỏng rát như kim châm, kiến đốt chạy ran khắp cơ thể. Không phải ngứa bên ngoài mà ngứa từ bên trong dòng máu sục sôi. Như những lớp nham thạch muốn phun trào ra khỏi ngọn núi lửa. Người đàn ông cong lưng, cào cấu rồi lại chịu đựng, rên gầm gừ như con sói cái. Sau cơn ngứa, người đàn ông vật người ra. Ông thở hồng hộc, có vẻ như đuối sức vì phải gồng mình chịu đựng.

Chị chứng kiến và khổ tâm vô cùng. Muốn nói gì đó mà không nói được thành lời. Chị đưa tay định vuốt ve, an ủi ông. Ông rít lên:

- “Đi đi. Làm ơn đừng lại gần…”

Ông xua đuổi chị. Nhưng chỉ ngay sau đó, ông lại vật vã với cơn ngứa tiếp theo. Lần này dữ dội và khắc nghiệt hơn. Ông cào cấu, cắn xé. Hàm răng cắn chặt gối để chịu đựng cơn ngứa khủng khiếp hành hạ cơ thể. Hai bàn tay to khỏe là hai gọng kìm sắt. Mười ngón tay như những gai nhọn và sắc bấu vào da thịt vẫn chưa thỏa cơn ngứa. Cho đến khi da thịt ông rướm máu thì ông đã thấm mệt. Ông nằm im lặng, mắt mở trừng trừng, tức giận sự bất lực của chính mình…

Chị ở cạnh ông khi trời đã gần sáng. Ông đã không còn sức xua đuổi chị nữa. Ngôn ngữ nói của ánh mắt ông đã nói với chị tất cả: Em làm anh xúc động quá. Cám ơn em lắm lắm!

Chị lấy khăn ấm lau sạch những vết thương tứa máu trên thân thể ông. Trên áo pyzama màu xanh nhạt và tấm ra trải giường trắng toát, có rất nhiều vết máu do động tác cào cấu của ông để lại. Nhưng chị hoàn toàn bất ngờ: những vết máu không phải màu đỏ bầm mà dần dần biến thành màu da cam! Cứ loang ra, loang ra mãi…

* * *
Cuối cùng thì mặt trời đã mọc. Sau một đêm, bình minh lên rạng rỡ.

Phương đông đỏ hồng.

Người đàn bà là chị với đôi mắt thâm quầng chợt sáng hẳn lên khi nhìn thấy mặt trời mọc. Buổi sớm bao giờ cũng gieo vào lòng con người ta cảm giác vui sống của một ngày nắng mới.

Thế rồi từ phía đằng đông, những tia chớp sáng lóa mắt chị. Những tia chớp quyện lại thành dải mây sáng trắng bồng bềnh, bay lượn vào nhà chị. Chị nghe thấy những âm thanh vui tai:

- “Chi…ri…íu! Chi…ri…íu! Chi…ri…íu!”

Vô số những thiên thần bé nhỏ trên dải mây trắng sáng mềm mại. Đó là những thiên thần có cánh, đôi mắt mở to tuyệt đẹp như những viên bi ve trong suốt. Các thiên thần nhảy múa, còn dải mây trắng sáng bồng bềnh cuộn quanh người đàn ông đang mê ngủ.

Người đàn bà chưa hết ngạc nhiên đã lại thêm bất ngờ khi dải mây cuộn quanh người ông trong chốc lát lại bay vào không trung, bay mất hút vào cuối chân trời. Chị quay lại. Không còn tin vào mắt mình nữa. Thân thể ông không còn những vết máu loang lổ màu da cam. Không còn vết trầy xước dấu tích của một đêm cào cấu, vật lộn với căn bệnh quái ác. Lưng ông đã trở nên phẳng lì, mặt và tay mịn màng tuyệt đẹp.

Chị reo lên khe khẽ:

- “Anh ơi! Dậy mà xem nè…”

Nhưng mắt ông vẫn nhắm nghiền… Chỉ có miệng ông đang hé nụ cười. Nụ cười hồn nhiên của thằng Tí đầu đinh thơ dại ngày xưa…

An Khê, tháng 9/2007
N.C.T.C

Thứ Tư, 28 tháng 5, 2008

CHIẾC VÕNG ĐỎ


Truyện ngắn của NGUYỄN CÔNG TÙNG CHINH


Ngày cưới ấn định cũng đã đến. Trước khi lên xe hoa về nhà chồng, cha nàng đưa cho nàng một hộp quà được trang trí rất đẹp:

“Ba tặng con của hồi môn về nhà chồng. Đây là món quà có ý nghĩa. Trong đời sẽ có lúc con dùng đến nó và con nhớ đến ba”.

Nàng ngập ngừng, tay run run nhận chiếc hộp, nói vài lời cho cha yên lòng.

Sau ngày cưới, vợ chồng nàng tíu tít mở tất cả các hộp quà mừng tặng. Hộp quà của cha nàng được mở sau cùng: Một chiếc võng nhỏ dành cho trẻ con. Cha nàng đã miệt mài bên bàn máy may để hoàn thành nó vào trước hôm cưới mấy ngày.

Đúng như cha nàng nói, món quà này có ý nghĩa thật. Chiếc võng được may bằng thứ vải đỏ Trung Quốc, in những hoa hồng to màu đỏ thắm, hai mép võng được viền vải màu xanh có hoa văn nhỏ li ti. Nhưng ý nghĩa ở chỗ nó được may bởi bàn tay thô ráp, sần sùi của người cha. Bao nhiêu tình cảm yêu thương của cha được dồn cả vào chiếc võng đỏ. Mẹ mất sớm. Cha nàng không đi bước nữa, ở vậy “gà trống nuôi con”.

Nàng bùi ngùi rưng lệ, cất chiếc võng trong chiếc hộp xinh xắn vào góc tủ.

Hình như chồng nàng có nhìn thấy chiếc võng nhưng anh thờ ơ, không để ý đến bao giờ…

* * *

Nàng sinh hạ con trai đầu lòng. Hai vợ chồng mới ra riêng, thiếu trước hụt sau. Tốt nghiệp đại học nhưng chưa xin được việc, nàng đành ở nhà làm nghề tráng bánh, nấu rượu và nuôi heo. Đứa con đầu lòng trái tính trái nết, khó ngủ thường gắt gỏng luôn làm khó với người mới bắt đầu làm mẹ như nàng. Chiếc võng nhỏ giúp đứa con ngủ ngon nghe những lời ru ầu ơ còn ngượng ngập của người mẹ trẻ.

Khi thằng bé lên hai, chiếc võng được giặt giũ, gói gém cất vào tủ. Dường như chẳng ai nhớ đến nó nữa, kể cả nàng. Vì sau đó gia đình nàng sung túc nhờ gia đình chồng làm nghề mua bán song mây và trầm. Các đồ vật cũ kỹ trong nhà đều bị mọi người vứt bỏ để thay vào những đồ trang trí nội thất mới, đắt tiền. Chiếc võng đỏ cũng chung số phận nhưng nhờ nàng phát hiện sớm nên đã cố giữ lại làm vật kỷ niệm của người cha quá cố.

Nàng sinh con thứ hai. Lần này, chiếc võng đã không còn được sử dụng. Con thứ hai của nàng được nằm nôi điện đắt tiền. Chỉ cần ấn nút là chiếc nôi đung đưa suốt cả buổi kèm với tiếng nhạc du dương được gài đặt phát ra. Thế nhưng, chẳng hiểu vì sao đứa trẻ đờ đẫn, lắm bệnh tật, không lâu sau đã rời bỏ nàng mà đi.

Mất đứa con thứ hai là điều đau buồn lớn nhất của nàng. Thêm vào đó cảnh nhà bắt đầu sa sút, gia đình chồng làm ăn lỗ lã thâm hụt, nợ nần chồng chất.

Nàng cố sinh thêm một đứa con nữa để bù vào những hụt hẫng trong tâm hồn. Ngày đứa trẻ ra đời, lòng buồn bã nàng nhớ đến chiếc võng đỏ của cha.

Chiếc võng đã cũ rách, dây dù đã sờn nhưng vẫn dùng được. Nàng âm thầm mạng lại các lỗ thủng. Nghe bùi ngùi nơi khóe mắt giọt lệ rưng rưng. Thế rồi khi đặt đứa con yêu bé bỏng vào chiếc võng để đưa, nàng sửng sốt bất ngờ… Chiếc võng đỏ thắm rực lên!

* * *

Giờ đây, chiếc võng vẫn đỏ dù nó đã cũ.

Nàng vẫn còn dùng nó để ru đứa con yêu của mình. Nàng vẫn hát ru để nhớ lời của người cha ngày xưa khi cho nàng món quà nhỏ. Có khác chăng giờ đây tiếng ru hời không còn ngập ngừng, bỡ ngỡ mà nó thấm đượm cả một quãng đời từng trả đã qua:
“Gió đưa cây cải về trời

Rau răm ở lại chịu đời đắng cay…”.