Hiển thị các bài đăng có nhãn Đà Lạt nhớ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đà Lạt nhớ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 15 tháng 7, 2013

ĐỊA DANH ĐÀ LẠT

Nghiên cứu của Thầy NGUYỄN TUẤN TÀI

Một bài nghiên cứu ngắn, hay, rất bổ ích của Thầy Nguyễn Tuấn Tài.

1. Trên cơ sở so sánh và đối chiếu các tài liệu nghiên cứu về Đà Lạt từ trước đến nay với các tư liệu điều tra hồi cố qua các đợt điền dã tại các vùng dân cư trong địa bàn thành phố và các huyện ngoại vi, chúng tôi thu thập được một danh mục các tên gọi có liên quan đến Đà Lạt trong hơn một trăm năm qua. Tư liệu phản ánh khá nhiều mặt, đặc biệt là lịch sử hình thành và phát triển của thành phố cao nguyên này. Kết quả xử lý tư liệu nói trên phần nào được công bố trong các bài viết của chúng tôi nhân dịp kỷ niệm 100 năm Đà Lạt hình thành và phát triển. Bài viết này chỉ dừng lại khảo sát một mảng tư liệu nói trên về địa danh Đà Lạt.
2. Chính các địa danh Đà Lạt cũng đã phản ánh khá rõ nét các thời kỳ lịch sử của thành phố:
2.1 Trước hết, đó là thời kỳ khi người Pháp chưa đặt chân lên khai phá cao nguyên Lang Biang. Đà Lạt là vùng đất của tộc người Lạch (dân tộc Kơho) với những địa danh bằng tiếng Thượng dùng để gọi các sông, suối, thác, núi, đèo ... mà nhiều từ còn lưu giữ cho đến ngày nay: Đà Lạt, Lang Biang (Lâm Viên), Đan Kia, Ankroet, Đatanla, Cam Ly, Prenn, Manglinh, Tà Nung, núi Lu Ruas v.v...
2.2 Thời kỳ người Pháp đặt tên cho các đường phố và những công trình xây dựng, các địa danh trên bản đồ đều bằng tiếng Pháp. Một vài ngọn núi được đổi thành tên Pháp vào thời kỳ này, như Labbé (Láp-bê Bắc và Láp-bê Nam), Pin Thouard, Pic Robin. Trong số 72 tên đường có 54 từ gốc Pháp (75%), 12 từ gốc Việt (16%) và 6 từ gốc Kơho (8%).
2.3 Trong giai đoạn tiếp theo (1949-1974), quyền quản lý thành phố chuyển sang người Việt Nam, nhiều đường phố mang tên người Pháp đổi dần sang tên người Việt Nam, chỉ còn giữ lại những địa danh kiểu mốc địa chính: Pin Thouard, Pic Robin, Labbé Sud... hay các hồ: Grand Lac, Lac des soupirs, Lac S' Benoit... Từ năm 1953, với chủ trương Việt hóa các địa danh, các tên hồ, danh lam thắng cảnh đều được chuyển sang tiếng Việt.
2.4 Chiến thắng mùa xuân 1975 đưa Đà Lạt sang kỷ nguyên mới - chủ nghĩa xã hội, việc đổi tên là tất yếu. Những đường phố mang tên các nhân vật lịch sử có ít nhiều thay đổi (19 trường hợp), còn hầu hết vẫn giữ nguyên như trước đây.

3. Nhìn chung, qua các địa danh Đà Lạt, chúng ta có thể hình dung một số quy định như sau:
3.1 Dùng tên người, trong đó:
a. những người có công khai phá: Đạ Pàng Đòng (suối ông Đoòng), Liêng Tô Sra (Thác ông Tô và ông Sra), Trại Hầm (Trại ông Hầm), Ferme Faraut (Đồn điền Pha rô), rue Champoudry, Thouard, Yersin,...
b. các danh nhân văn hóa và lịch sử: Pasteur, Yersin, Lamartine, Bà huyện Thanh Quan, hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Trần Hưng Đạo, Hùng Vương...
c. các nhân vật lịch sử - chính trị: Roume, Doumer, Gia Long, Hàm Nghi, Ngô Đình Huân, Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân...
3.2 Dùng tên các địa danh khác nhằm:
a. tôn vinh: Annam, France...
b. địa danh lịch sử: Mê Linh, Vạn Kiếp, Lam Sơn...
c. biểu thị các đợt di cư lớn: Hà Đông, Nghệ Tĩnh, Sầm Sơn...
3.3 Đặt tên theo đặc điểm khu vực: Đa Prenn, Đatanla, Đăng Bồ Liềng (đồi đầu thác), lò Gạch, Cầu Quẹo, rue des Missions hay Nhà Chung, đồi Cù...
3.4 Đặt tên theo cảm hứng nghệ thuật:
a. theo sự tích văn học: Brah Sét (Đồi thần Sét), Đạ Chớt Ruas (suối chết voi), Đồi thông hai mộ...
b. mang tính chất trang trọng bằng cách dùng âm Hán Việt: Xuân An, Bình Minh, Ánh Sáng, Đa Thành, Đa Thiện, Đa Phước,...
c. và đầy hình tượng: Vallée d'amour (Thung lũng Tình Yêu), Bois d'amour (Rừng Ái Ân), Lac des soupirs (hồ Than Thở)...
3.5 Dùng tên hoa: Hiện tượng này chủ yếu dành cho các tên gọi các quán xá, trường hợp hiếm hoi dùng để đặt tên cho các đường phố ở Đà Lạt, ta chỉ bắt gặp hai con đường Rue des Roses (đường Hoa Hồng), Rue des Glaieuls (đường Hoa Layơn).

4. Nhân đây, chúng tôi xin đính chính lại những hiểu nhầm của các tác giả đi trước về một vài địa danh Đà Lạt
4.1 Trước hết, tên gọi Đà Lạt: "đất của người Lạch, người vùng rừng thưa, đồi trọc ..." là cách hiểu đúng quy luật danh học mà nhiều tác giả đã giải thích, cũng có thể hiểu đó là con suối Lạch (chảy từ Học việc lục quân đến thác Cam Ly nay là suối Cam Ly). Các giả thuyết mang tính chất suy luận văn nghệ như Đa Lạc (đọc theo phương ngữ Nam Bộ) - nhiều niềm vui, hay viết tắt từ câu La-tinh "Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem" (cho người này niềm vui, cho người kia sự mát mẻ) không nên cho là giả thiết khoa học như một vài tác giả đã bàn.
4.2 Hồ Xuân Hương là tên gọi hồ nhân tạo từ những năm ba mươi, được người Pháp đặt tên là Hồ Lớn (Grand Lac), sau đó chủ trương Việt hóa của Hội đồng thành phố và Nguyễn Vỹ lúc bấy giờ là Chủ tịch Hội đồng đổi tên là hồ Xuân Hương (hồ hương xuân) chứ không phải lấy tên bà chúa thơ nôm, họ Hồ. Điều này hoàn toàn dễ hiểu vì:
a. Các hồ Đà Lạt được đổi tên có hai xu hướng chính: theo địa danh lịch sử (Vạn Kiếp, Mê Linh...) hay theo cảm hứng văn chương (Than Thở, Xuân Hương, Đa Thiện, Tuyền Lâm), chứ không hề dùng tên người . Đây không kể những hồ giữ nguyên tên cũ của người Thượng: Dankia, Danhim...
b. Nếu lấy tên nữ sĩ Hồ Xuân Hương, thì chúng ta phải ghi là hồ Hồ Xuân Hương mới đúng.
c. Và nếu như vậy, thì con đường xung quanh hồ này vốn từ đường Lamartine (nay là đường Bà huyện Thanh Quan) đổi thành đường Hồ Xuân Hương mới hợp lý hơn, chứ không ai lại chọn con đường khác xa hơn, gần hồ Than Thở để đặt tên cả.
Đây là khu vực cư trú của người Lạch, cư dân làm lúa nước vùng rừng thưa, đồi thông, không thể có người Chil, một cư dân làm rẫy ở đây được. Việc khẳng định dưới đáy hồ là buôn làng cũ của các cư dân Kơho - Chil (chúng tôi nhấn mạnh), Kơho - Lạt là thiếu thận trọng. Bằng con đường hồi cố, chúng tôi lần theo gia phả của những dòng họ Lạch ở vùng trung tâm Đà Lạt (Da Gút, Bon Yô, Bon Dơng), những vị trí làng gần mép hồ ít nhất bảy đời gần đây cũng không ai xác nhận cả. Có một nhóm người Chil - Chil Kon Klang (Chil con Ó) không có vùng đất cố định thường mua đất của các làng khác, thì lúc ở Đà Lạt cũng chỉ nằm phía Trại Mát và xa hơn gần chân đèo Prenn, nơi những vùng rừng hỗn giao và lá rộng thuận tiên cho họ làm rẫy.
4.3 Cam Ly: các nhà nghiên cứu về Đà Lạt hoàn toàn đúng khi khẳng định đây là tiếng Thượng, chứ không phải tiếng Việt như Cunhac cảm nhận. Nhưng việc đưa ra hai giả thuyết khác nhau (do ghép tên hai người Ha Mon và M'Ly và do tên một người tù trưởng Kơ M'Ly) mà không có lý giải sẽ tạo ra những hiểu biết mơ hồ không cần thiết. Theo điều tra của chúng tôi, việc người Pháp dùng tên Cam Ly để đặt tên cho con suối Đạ Lạch kéo dài từ phía đông bắc Đà Lạt qua hồ Xuân Hương, qua thác Cam Ly là dựa vào tên làng cũ của người Lạch: Rhang Pàng M'Ly (làng cũ ông M'Ly). Làng đó đóng tại ngọn đồi gần nghĩa trang liệt sĩ bây giờ. Con đường khảo sát của người Pháp theo chúng tôi nắm được chủ yếu qua phía Tà Nung...
Bởi nếu họ đi theo con đường lên Đà Lạt hiện nay (con đường Yersin đã đi chẳng hạn), thì con suối phải mang tên Đạ Lạch, thác Cam Ly phải có tên là Liêng Tô Sra hay Liêng Sra như người Thượng đã khẳng định. Câu chuyện về "voi trắng cọp trắng" có nhiều biến thể là đề tài của văn học dân gian, nhưng nên thận trọng khi dùng nó làm sự kiện lịch sử.
4.4 Hồ Than Thở vốn được dịch từ tiếng Pháp "Lac des Soupirs" (hồ của tiếng thở dài, thì thào).... Cách đặt tên này rất đúng thực tế vì một trăm năm trước đây vùng này là đầm lầy, có con suối chảy qua gọi là Đạ Pàng Đòng (suối ông Đoòng) mọc rất nhiều lau sậy. Hồ được tạo dựng khi xây nhà máy nước đầu tiên ở Đà Lạt. Câu chuyện mối tình của chàng trai Việt - Hoàng Tùng và cô gái Thượng - Mai Nương... cũng như việc chàng trai theo Nguyễn Huệ... là sáng tác sau này. Việc xác định vùng ảnh hưởng của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn có kéo dài đến đây hay không, hay trong cuộc chinh phạt của Tây Sơn có lần nào kéo quân qua Đà Lạt không vẫn chưa có những chứng cớ lịch sử nào thuyết phục.
4.5 Prenn là tiếng Thượng với nghĩa là cây cà đắng, một món ăn được đồng bào ưa thích và mọc khá nhiều dọc theo con suối cùng tên. Nó không hề có nghĩa là Chăm, bởi theo tiếng Kơho, Chăm có thể đọc là Prưm hay Prum. Cuộc chiến tranh giữa người Chăm với cư dân bản địa là có thật, nhưng đó không phải là lý do để suy ra Prenn được dùng gọi người Chăm và càng vô lý hơn là từ gốc Chăm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đà Lạt, thành phố cao nguyên, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1993.
2. Nguyễn Diệp, Trương Phúc Ân, Đà Lạt trăm năm.
3. Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng, Mạc Đường chủ biên.
4. Nguyễn Đức Thận, Ghi nhanh về Đà Lạt (bản chép tay), Dalat, 1953.
5. Monographie de Dalat, 1953.

NGUYỄN TUẤN TÀI
Khoa ngữ văn Đại học Đà Lạt

Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013

TẠ TỪ ĐÀ LẠT

Văn Đà lạt 11 xin giới thiệu một tản văn của anh Huỳnh Văn Thông (Văn K9) hiện đang là chủ nhiệm khoa báo chí- ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM
 
HUỲNH VĂN THÔNG
 

 
Thứ Tư, Mười Ba tháng Tám, 2008, 08:45 … Xe khởi hành … Sao nhạc trên xe lại mở bài “Đà Lạt lập đông”? Câu hát tình cờ đến ngơ ngác “Ta qua con dốc xưa, cánh hoa vàng năm ấy …Em bây giờ lẽ nào, quên đồi dốc trên cao” …
 
Thế là rời xa, để lại sau lưng hơn 20 năm trời gắn bó với Đà Lạt. Tôi không thật sự biết cảm giác trong lòng mình là gì. Chỉ cố để không nghĩ đến … Chỉ cố để không ngoái đầu nhìn lại … Người ơi ngày xa …
 
Tạ từ Đà Lạt – thành phố đã cho tôi những năm tháng bình yên. Giờ phải rời xa, nếu được chút ước muốn mang theo điều gì đó của Đà Lạt, tôi sẽ ước mang theo sự bình yên ấy.
 
Tôi đã có tình yêu với Đà Lạt hết sức hồn nhiên và đầy cảm hứng. Hè năm 1982, có một cậu bé trong đoàn cháu ngoan Bác Hồ tiêu biểu của Nha Trang được đi tham quan Đà Lạt, đã tình cờ đến trước cổng trường Đại học Đà Lạt. Một ngày mưa gió, nhưng cậu bé vẫn kịp nhận ra vẻ đẹp đặc biệt của hàng tùng tĩnh lặng, của những cung đường uốn khúc lãng mạn bên trong cánh cổng. Không có một diễn giải ngôn từ nào thích hợp với những cảm xúc có thật bên trong cậu bé lúc ấy. Chỉ biết là Yêu …
 
Tháng 9/1985, cậu bé ấy trở thành sinh viên Đại học Đà Lạt. Cậu càng thích thú hơn khi biết mình có ngày sinh nhật trùng với ngày thành lập trường (27/10). Thế là chút thích thú con trẻ ấy đã tạo cảm hứng cho cậu bé trong quá trình học, tự coi đó là một biểu hiện của run rủi định mệnh đưa cậu đến ngôi trường này. Lạ thay, chính điều ngộ nghĩnh ấy đã thúc đẩy cậu phấn đấu trở thành một trong những sinh viên xuất sắc của trường. Và sau này cũng chính điều đó thúc đẩy cậu cống hiến hết mình cho Đại học Đà Lạt khi đã trở thành giảng viên của trường.
 
Năm 1989, tôi tốt nghiệp đại học, tưởng là sẽ rời xa Đà Lạt. Lời khuyên của những người thầy yêu thương tôi: “Nếu có chỗ thì đi đi em à, làm nghề giáo nghèo lắm!”. Nữa là tình thương yêu của chị: “Chỉ có hai chị em mình, về Nha Trang cho có chị có em!” Bài thơ viết chia tay Đà Lạt năm ấy cũng đã tròn tứ, giờ tôi vẫn thuộc:
 
Giảng đường ơi! Hãy lặng im
Như biển cả bình yên trước ngày giông bão
Sao anh phải đi xa khi anh vừa biết nhớ?
Một mảnh hồ … Một lối nhỏ …
Giảng đường ơi!
 
Phấn trắng ơi cứ trắng hoài đến vậy
Mà mắt người đỏ sắc lá Trạng nguyên
Thầy ở lại làm chúng em suy nghĩ
Phấn thì trắng rồi, sao tóc bạc làm chi?
… … …
 
Nhưng rồi bài thơ chia tay Đà Lạt ấy trở nên vô duyên, đành cất kỹ trong trang thơ nhật ký. Tôi ở lại Đà Lạt, trở thành giảng viên đại học nghèo. Cũng chẳng phải vì lựa chọn gì cho lý tưởng, mà chỉ vì yêu. Thứ tình yêu có phần khờ dại tôi dành cho Đà Lạt …
 
Thế rồi là gian nan, thiếu thốn … Rồi đến hạnh phúc, đủ đầy … Có đầy đủ những cung bậc của cuộc sống mà tôi đã nếm trải trong chặng đường hơn 20 năm. Đà Lạt cho tôi cơ hội để trưởng thành vượt bậc trong nghề nghiệp, cho tôi dịp may để được biết đến những người tử tế, cho tôi vận hội để chắp cánh bay xa. Nhất là, Đà Lạt đã cho tôi những tháng ngày bình yên, đủ để bình tĩnh mài bén những khả năng trí tuệ của mình, đủ để nhận ra mình đa cảm và lãng mạn. Nhờ vậy mà luôn giữ được yêu thương trong lòng, ngay cả khi bận rộn đến mức vô cảm.
 
Giờ phải rời xa … Tôi không muốn định nghĩa, không muốn gọi tên sự thay đổi này. Đơn giản là vì chẳng có cái tên nào thật sự diễn tả được sự lựa chọn này trong cuộc sống của tôi và gia đình. Chip và Tim của tôi cần được tiếp cận với những điều kiện giáo dục tốt hơn, tôi và vợ tôi cũng cần có môi trường làm việc chuyên nghiệp hơn.
 
Chỉ có điều, có những việc còn chưa kịp làm trước khi rời ra Đà Lạt. Đó là nói với những người yêu thương tôi lời chia tay.
 
Với thầy cô: “Thưa Thầy, em đi!”
Với những học trò thương yêu: “Thầy đi nhé! Hãy luôn cố gắng như các em đã từng!”
Với những đồng nghiệp dễ thương: “Mình đi nhé! Cảm ơn các bạn đã luôn ủng hộ!”
 Với những bạn bè thân thiết: “Giữ liên lạc nhé! Về Sài Gòn thì alô!”
 
Đà Lạt ơi, tạ từ! Lời tạ từ sao đơn giản quá!
Người ơi, tạ từ! Ước gì học trò đã chưa từng yêu quý tôi, để tôi không phải nhận những tin nhắn chia tay của các em: “Thầy ơi, mong thầy bình yên! Chúng em sẽ rất nhớ thầy!” …
Đà Lạt ơi, tạ từ! Bài hát đã nghe hết rồi, mà câu hát sao vẫn còn đọng lại trong suy nghĩ “Em nói cùng ta, giấc mơ một loài hoa …”

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2011

KHOA NGỮ VĂN- CHẶNG ĐƯỜNG HƠN 20 NĂM

Tiếp tục uống... bia nhớ nguồn

Hơn hai mươi năm xây dựng và trưởng thành khoa Ngữ văn Đại học Đà Lạt đã và đang khẳng định vị trí của mình là một trong những khoa có quy mô đào tạo lớn, uy tín giảng dạy và nghiên cứu khoa học ngày càng được nâng cao.
Những thành viên ban đầu của Khoa là một số cán bộ giảng dạy thuộc khoa Sư phạm Đại học Tây Nguyên chuyển về Đại học Đà Lạt năm 1982. Khoa đã được bổ sung dần từ nguồn tự đào tạo và từ các trường đại học, các cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn khác. Hiện tại tổng số giáo chức tham gia giảng dạy ngữ văn là 21 người, trong đó có 10 người kiêm nhiệm công tác quản lý trong Ban Giám hiệu các khoa, phòng, trung tâm và đoàn thể. Đội ngũ cán bộ giảng dạy của Khoa hầu hết đã được đào tạo sau đại học; trong đó có 02 người là PGS-TS; 9 TS; 2 ThS. Đây là vốn quý để khoa Ngữ văn tiếp tục phát triển đào tạo đại học và sau đại học.
Ban Chủ nhiệm khoa gồm TS. Phan Thị Hồng – Trưởng khoa; TS. Dương Hữu Biên – Phó trưởng khoa. Khoa có 4 bộ môn là: Văn học Việt Nam do TS. Phạm Quốc Ca làm Trưởng bộ môn; bộ môn Lý luận văn học và Văn học nước ngoài do PGS. TS. Phạm Quang Trung làm Trưởng bộ môn; bộ môn Ngôn ngữ học do TS. Nguyễn Khắc Huấn làm Trưởng bộ môn và bộ môn Văn hóa học do TS. Phan Thị Hồng làm Trưởng bộ môn. Đây là mô hình tổ chức tương đối phù hợp với tính chất và quy mô đào tạo hiện nay của Khoa.
Định hướng chính trong hoạt động của khoa Ngữ văn Đại học Đà Lạt là đào tạo và nghiên cứu khoa học cơ bản thuộc hệ đại học tổng hợp. Để đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục của địa bàn Tây Nguyên và các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, ngay từ khóa đầu Khoa đã có chủ trương đúng đắn là mở thêm hướng đào tạo ngữ văn sư phạm. Gần đây để đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội, Khoa đã xác định và cơ cấu chương trình đào tạo theo ba hướng: ngữ văn, ngữ văn sư phạm và ngữ văn - báo chí (cho sinh viên hệ tại chức). Nội dung, chương trình giảng dạy ngày càng được cải tiến, đảm bảo chương trình chuẩn quốc gia với hệ thống học phần bắt buộc và tự chọn khá phong phú. Khoa cũng đã tham gia xây dựng chương trình đào tạo, và thực tế đã  đào tạo Cao học ngành Văn học Việt Nam từ năm học 2002-2003. Khoa đang đề nghị và chuẩn bị mọi mặt cho đào tạo Tiến sĩ khi được Bộ Giáo dục & Đào tạo cho phép.
Hơn hai mươi năm qua, đặc biệt là từ những năm gần đây, khoa Ngữ văn đã có sự mở rộng quy mô đào tạo với phương châm đa dạng hóa về ngành học và loại hình đào tạo. Từ chỗ chỉ đào tạo đại học chính quy, giờ đây Khoa song song đào tạo ba loại hình: chính quy, tại chức và đào tạo từ xa. Từ chỗ chỉ có gần 150 sinh viên chuyển về từ Đại học Tây Nguyên (1982), hiện tại Khoa đang đào tạo hơn một ngàn bốn trăm sinh viên chính quy và gần hai trăm sinh viên hệ tại chức, đào tạo từ xa.

Trong những năm qua hàng ngàn sinh viên khoa Ngữ văn đã ra trường, công tác ở mọi miền đất nước (chủ yếu là các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên). Nhiều cựu sinh viên của Khoa đã làm việc có hiệu quả và trưởng thành nhanh chóng tại trường Đại học Đà Lạt, Đại học Tây Nguyên, các trường trung học phổ thông, các sở văn hóa, các báo, đài, các hội văn nghệ, và nhiều cơ quan chính quyền, đoàn thể xã hội khác.
Để đạt được những thành tích đào tạo như vậy, các thầy giáo, cô giáo trong khoa đã nỗ lực hết mình trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Nhiều người đã liên tục được bầu là “giảng viên giỏi” của Trường Đại học Đà Lạt.
Khoa Ngữ văn Đại học Đà Lạt luôn ghi nhớ công lao của các giáo sư, tiến sĩ các khoa Ngữ văn Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh, Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh và các cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội & nhân văn khác đã tham gia đào tạo với tư cách là cán bộ thỉnh giảng và đã tham gia đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ cho khoa. Trong số đó, PGS Nguyễn Thạch Giang có thời kỳ được mời làm Trưởng bộ môn Văn học Việt Nam. Thầy trò khoa Ngữ văn ghi nhớ công lao của PGS-TS Nguyễn Khắc Tụng, cựu Trưởng khoa Văn – Sử (đã trở lại Hà Nội), cố PGS - cựu Trưởng khoa Ngữ văn Hồ Tấn Trai và những cán bộ đã từng tham gia công tác quản lý Khoa.

Trong hơn hai mươi năm qua, khoa Ngữ văn đã thực hiện gần ba mươi đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ và hàng trăm đề tài cấp trường. Các đề tài tập trung vào mấy hướng chủ yếu sau:
1. Nghiên cứu những vấn đề khoa học cơ bản về văn học và ngôn ngữ  học phục vụ trực tiếp nội dung giảng dạy. Nhiều đề tài nghiên cứu khoa học và đề tài luận án tiến sĩ  của TS. Nguyễn Đình Hảo, TS. Dương Hữu Biên, TS. Nguyễn Khắc Huấn, TS. Huỳnh Thông, ThS. Nguyễn Hữu Hiếu, ThS. Phạm Hậu Thành…  đã đáp ứng trực tiếp hướng nghiên cứu này.
2.      Nghiên cứu những vấn đề đặt ra trong đời sống văn học đương đại của đất nước . Các đề tài, các bài báo của PGS.TS Lê Chí Dũng, PGS.TS Phạm Quang Trung, TS. Nguyễn Văn Kha, TS. Phạm Quốc Ca, TS. Nguyễn Mạnh Hùng… đã tham gia vào việc nhận diện đặc điểm văn học Việt Nam đương đại, nghiên cứu thơ, văn xuôi và lý luận văn học… Năm 2001 tập thể cán bộ giảng dạy Khoa Ngữ văn đã thực hiện đề tài cấp Bộ “Văn học Việt Nam thế kỷ XX”. Công trình này đã được Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc xuất bản năm 2002.
3.      Nghiên cứu những vấn đề văn học, ngôn ngữ và rộng ra là xã hội, nhân văn gắn với địa bàn Tây Nguyên . PGS.TS Lê Chí Dũng tham gia Ban chỉ đạo các chương trình Khoa học xã hội và Nhân văn của tỉnh Lâm Đồng. TS. Lê Hồng Phong, TS. Phan Thị Hồng, GV Nguyễn Tuấn Tài… đã tích cực tham gia các đề tài nghiên cứu địa chí Lâm Đồng, Đà Lạt, văn hóa, văn học dân gian Tây Nguyên, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số K’ho, Mạ, Rơ-măm, Ba-na… Nhiều buôn làng xa xôi, hẻo lánh đã in dấu chân thầy trò khoa Ngữ văn trong những chuyến đi điền dã…
Thành tích đào tạo và nghiên cứu khoa học của Khoa đã được ghi nhận xứng đáng. Tập thể khoa Ngữ văn và nhiều cá nhân đã được Hiệu trưởng Đại học Đà Lạt khen thưởng. Các công trình nghiên cứu văn học dân gian Tây Nguyên của TS. Phan Thị Hồng, TS. Lê Hồng Phong đã được tặng giải thưởng của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, PGS.TS Phạm Quang Trung và TS. Phạm Quốc Ca được Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Uỷ ban Toàn quốc liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật Việt Nam tặng thưởng về lý luận, phê bình. Nhân kỷ niệm 25 năm đổi mới và phát triển của Đại học Đà Lạt, tập thể khoa Ngữ văn và 10 cán bộ giảng dạy của Khoa đã được Bộ Giáo dục & Đào tạo tặng bằng khen.
Khoa Ngữ văn còn là cái nôi trưởng thành của nhiều cây bút sáng tác văn học và đã có đóng góp tích cực vào hoạt động của Hội Văn học - nghệ thuật Lâm Đồng, Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (Khoa Ngữ văn có PGS.TS Phạm Quang Trung và TS. Phạm Quốc Ca là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, TS. Lê Hồng Phong, TS. Phan Thị Hồng là hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, 6 cán bộ là hội viên Hội Văn học – Nghệ thuật Lâm Đồng). Nhiều sinh viên khoa Ngữ văn đã có tác phẩm được in ở các báo, tạp chí  trung ương và địa phương và trở thành hội viên các hội văn học, nghệ thuật ở các tỉnh, thành phố.
Hơn hai mươi năm qua là chặng đường nỗ lực phấn đấu của thầy trò khoa Ngữ văn Đại học Đà Lạt. Những gì đã đạt được là tiền đề vững chắc cho những bước phát triển trong tương lai của khoa.


MỤC TIÊU ĐÀO TẠO            
Mục tiêu của Khoa Ngữ văn Đại học Đà Lạt là đào tạo các cử nhân khoa học ngành Ngữ văn, Sư phạm Ngữ văn và Ngữ văn báo chí (đào tạo hệ tại chức). Sinh viên Ngữ văn khi ra trường có thể công tác trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, báo chí đài, báo hoặc có thể tiếp tục nâng cao trình độ, đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề văn học, ngôn ngữ học và các vấn đề xã hội – nhân văn gắn với địa bàn Tây Nguyên và của đất nước.

            Về chương trình học: ngoài khối kiến thức giáo dục đại cương, sinh viên được cung cấp các kiến thức chuyên ngành về Văn học Sử (Văn học Việt Nam các thời đại, Văn học nước ngoài (Văn học Phương Tây; Văn học Trung Quốc; Ấn Độ; Văn học Đông Nam Á, Văn học Mỹ, Văn học Nga, Văn học Xô Viết…), Lý luận, phê bình văn học, Phương pháp sáng tác văn học và Ngôn ngữ học… cùng các tác gia và tác phẩm tiêu biểu của mỗi thời đại văn học.

            Bên cạnh phần kiến thức cốt lõi, chương trình đào tạo còn bao gồm một danh mục phong phú các chuyên đề về văn học VN, văn học nước ngoài, các tác gia và tác phẩm tiêu biểu, Tâm lý  học sáng tạo văn chương, Ngôn ngữ thơ, Lịch sử Tiếng Việt, Loại hình học Tiếng Việt, Lịch sử báo chí, Ngôn ngữ báo chí, cách thể ký văn chương và thể ký báo chí…

            Ngoài chương trình chính khóa, sinh viên còn tham gia các chương trình ngoại khóa gồm:
-    Các buổi Xêmina, giao lưu văn học với các GS, các nhà nghiên cứu văn học, các nhà văn…
-    Tham gia các đợt thực tập điền dã hoặc tham quan các cơ quan văn hóa, Báo, Đà trong và ngoài Tỉnh. Đặc biệt tại Lâm Đồng và các tỉnh Tây Nguyên khác như Gia Lai, Kontum, DakLak.



Thứ Năm, 14 tháng 4, 2011

LÊ UYÊN PHƯƠNG - THỜI VANG BÓNG

Nhớ Đà Lạt, nhớ đôi nghệ sĩ tài hoa và những tình khúc bất hủ của họ....
Văn Đà Lạt 11 xin trân trọng giới thiệu bài viết dưới đây.
Những năm đầu của thập kỷ 70, Việt Nam bước vào giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh. Trong đạn bom và máu lửa, phong trào phản chiến của học sinh, sinh viên diễn ra ngày càng rầm rộ. Còn nhớ những đêm văn nghệ xuống đường tại Sài Gòn, bên cạnh những ca khúc Da Vàng của Trịnh Công Sơn, sự xuất hiện cặp song ca Lê Uyên – Phương như một hiện tượng, họ đã thổi một luồng gió mới vào nền tân nhạc thời bấy giờ. Với giai điệu nồng nàn, khắc khoải đôi khi bàng bạc triết lý, Lê Uyên – Phương đã được giới trẻ đón nhận nồng nhiệt trong những ca khúc nổi tiếng: Bài ca hạnh ngộ, Còn nắng trên đồi, Dạ khúc cho tình nhân, Lời gọi chân mây, Vũng lầy của chúng ta...


Tuổi thơ
Lê Uyên Phương sinh năm 1941 tại Đà Lạt, là một trong những nhạc sĩ lớn của âm nhạc miền Nam Việt Nam trước 1975. Ông tên thật là Lê Minh Lập. Do giấy tờ bị thất lạc trong chiến tranh, tên của ông bị khai nhầm thành Lê Minh Lộc rồi Lê Văn Lộc. Ông giữ tên Lê Văn Lộc từ đó đến giờ.
Cha của Lê Uyên Phương vốn họ Phan nhưng vì cuộc cách mạng của Phan Bội Châu nên phải đổi thành họ Lê. Mẹ của Lê Uyên Phương là Công Tôn Nữ Phương Nhi, ông lấy chữ Phương trong tên của mẹ làm tên cho mình. Cùng với chữ Uyên, tên người bạn gái đầu tiên, ông ghép thành  Lê Uyên Phương.
Bản nhạc đầu tiên “Buồn đến bao giờ” được Lê Uyên Phương viết tại Pleiku vào năm 1960. Tám năm sau đó (1968), Lê Uyên Phương gặp Lâm Phúc Anh ở Đà Lạt, hai người thành hôn. Họ trở thành đôi tình nhân song ca nổi tiếng. Lâm Phúc Anh không muốn dùng tên thật nên lấy tênLê Uyên. Hai người thường xuất hiện song ca trước công chúng nên được gọi Lê Uyên và Phương.
Thật ra, Lê Uyên là người Trung Hoa thuần chủng, sinh 1952 tại phố Hàng Bồ, Hà Nội. Cha chị người gốc Hải Nam, mẹ người Triều Châụ. Năm 1954, Lê Uyên cùng với bố mẹ và người em gái là Lâm Phi Yến từ Hà Nội di cư vào Nam, cư ngụ trong một ngôi nhà rất khang trang ở Chợ Lớn. Đâ cũng là nơi đặt văn phòng của một Công ty vận tải chạy đường Qui Nhơn, Huế và Đà Nẵng do thân phụ chị khai thác.
Năm 1969, họ dắt nhau xuống Sài Gòn. Trong những năm đầu cùng nhau đi hát, Lê Uyên và Phương chỉ giới hạn phạm vi hoạt động của mình trong khuôn viên đại học với phong trào Du ca Việt Nam. Với giọng ca thiết tha và trầm ấm, Lê Uyên và Phương đã đem một luồng gió mới đến với khán giả giả Sài Gòn những năm sau đó…

Yêu nhau trong lo âu…

Lê Uyên Phương là một người đa tài. Tuy nhiên, đến 27 tuổi, anh vẫn chưa có “mảnh tình vắt vai”. Lúc bấy giờ, trên thân thể chàng xuất hiện nhiều khối u lạ. Mặc dù bác sĩ chưa định ra chính xác là bệnh gì, nhưng ai cũng nghĩ chàng mắc bệnh ung thư xương, không biết sẽ ra đi vào lúc nào. Chính vì thế, anh không nghĩ đến hôn nhân  để khỏi gây khổ luỵ cho người khác.
Ngày ấy, 16 tuổi, nàng là nữ sinh trung học xinh đẹp và ngây thơ, được cha (một thương gia giàu có) đưa lên Đà Lạt  học tại Virgo Maria, một trường nữ trung học có tiếng thời bấy giờ. Vừa xinh đẹp, vừa giàu có, Lê Uyên được nhiều chàng trai tán tỉnh, ngày đêm thương nhớ.
Như một định mệnh, nàng lại gặp và yêu đắm say Phương, chàng nhạc sĩ mang trong mình căn bệnh hiểm nghèo không biết sẽ ra đi lúc nào. Nàng như con nai hiền, anh như một khu rừng già luôn xòe bóng mát chở che. Lê Uyên Phương hơn Lê Uyên 11 tuổi. Năm ấy, anh đã là một ông thầy giáo dạy Triết và  Nhạc tại một vài trường ở Đà Lạt. Chàng được học violon từ bé và bắt đầu sáng tác nhạc từ năm 20 tuổi, nhưng không ký tên thật là Lê Minh Lộc mà dùng bút danh Lê Uyên Phương.
Lê Uyên đã tâm sự: “Tôi yêu bởi cái tài và con người hiền lành, đạo đức, rộng lượng của anh. Nhưng yêu tha thiết hơn chính là vì căn bệnh hiểm nghèo của anh. Cuộc tình chúng tôi lãng mạn, đau đớn cũng bởi không biết một ngày nào đó cả hai sẽ chia lìa nhau. Chúng tôi yêu nhau nồng nàn và như thành một khối từng ngày, từng giờ cũng bởi cái chết luôn ám ảnh”.
Một nghiệt ngã khác trong cuộc tình định mệnh này là gia đình Lê Uyên không chấp nhận cho con gái đến với một người nay sống, mai chết như Phương. Cha, mẹ Lê Uyên cấm không cho họ gặp mặt nhau mỗi ngày. Trong thời gian về lại Sài Gòn, để được gặp mặt, họ phải ngồi suốt ngày trong nhà ga Sài Gòn. Có khi bụng đói rã rời, chỉ có mẩu bánh mì nhỏ trong bụng, ấy vậy mà họ vẫn không lìa nhau. Họ sống như thế một tháng trời. Những lúc nhớ thương người yêu da diết, anh dành hết cho âm nhạc. Những ca khúc trong tập Khi loài thú xa nhau đã ra đời trong hoàn cảnh chia lìa như thế.              Sau này, nhà văn Song Thao có viết về cuộc đời và hoàn cảnh những tác phẩm của Lê Uyên Phương:
Hồi đó... Nàng quen em gái anh và thỉnh thoảng vẫn lui tới nhà. Lúc đầu nói chuyện thường thường rồi sau anh trở thành “cố vấn” của nàng. Nàng hỏi ý kiến anh đủ thứ chuyện kể cả chuyện yêu đương nhăng nhít”. Họ yêu nhau lúc nào không biết. Tôi hỏi anh ngỏ tình yêu ở đâu. Trên đồi! Đà Lạt có những ngọn đồi mộng mơ cho những kẻ yêu nhau quấn quít..
Tiếng Lê Uyên và Phương từ chiếc máy cassette quấn lấy nhau vọng ra:
“ ...Lệ ngập ngừng bờ mi.
Giọt nước mắt lăn nỗi buồn.
Giọt nước mắt xa cách vời vợi trông.
Giờ này còn nhìn nhau.
Nhìn đắm đuối như suối bền.
Nhìn suốt kiếp như chết mòn.
Nhìn hấp hối thương đau.
Ngày mai ta không còn thấy nhau”
                                (Cho Lần Cuối).
Anh khẽ bảo tôi chính vì bài này mà người ta đồn là anh sắp chết. Bệnh tật của anh đã trở thành huyền thoại. Người ta bảo là anh chỉ còn sống được một năm nữa. Người ta đồn là vào năm 1972 anh sẽ chết. Anh đưa bàn tay trái cho tôi coi. Trên lưng ngón tay trỏ nổi lên một cục bằng trái cà chua nhỏ đỏ au và mòng mọng. Những đường gân máu chạy nổi thấy rõ. “Bác sĩ cũng chưa thể định là bệnh gì. Bây giờ nó đã nổi thêm trên mấy ngón khác và một vài chỗ trong người. Muốn chữa bây giờ chỉ có thể cắt ngón tay này nhưng tôi chưa muốn cắt”. Anh xác nhận là những bài ca viết về sự chia phôi không phải là do bị ám ảnh bởi cái chết nhìn thấy trước mà do sự rắc rối và xa cách của mối tình đẹp nhất đời anh và khi được hạnh phúc anh luôn luôn sợ ngày nó sẽ hết. Người nghệ sĩ không những sống cho mình mà còn thông cảm được với cuộc sống của những người khác. Anh đã nhìn thấy cái chết và đã nghĩ nhiều về cái chết...”
“Chuyện tình của họ đòi đoạn đớn đau. Gia đình nàng không chấp nhận. Họ mê say trong trốn chạy. Năm 1968, hai người sống ở Sài Gòn. Họ không có một chỗ gặp gỡ nhau. Suốt ngày hai người ngồi trong sân nhà ga Sài Gòn. Thỉnh thoảng họ phải làm bộ ngoắc tay những hành khách ngồi trên xe ca của hãng Hàng không Việt Nam cho ra vẻ ngồi chờ người nhà. Mỗi ngày chỉ có một mẩu bánh mì nhỏ trong bụng. Họ sống như vậy một tháng trời. Tình yêu của họ được kết hợp bằng những ngày không có nhau. Chính những ngày xa cách nhớ thương là thời gian anh sáng tác nhạc. Những bản nhạc đang dần dần quen thuộc với mọi người được kết tinh trong sự nhớ thương đó nên nặng mang sự chia phôi. Mười hai bài trong tập “Khi Loài Thú Xa Nhau” được viết trong thời kỳ này. Nó không còn mang tình yêu thơ mộng, tình yêu trong trí tưởng, thật xa và thật huyền diệu như mười bài trong tập “Yêu Nhau Khi Còn Thơ” được sáng tác trong thời kỳ trước đó khi chưa gặp Lê Uyên”.
...Đà Lạt hoang sơ quyến rũ đã đưa anh trở về những rung cảm nguyên thủy của buổi hồng hoang. Không có Đà Lạt chắc khó có một thứ nhạc độc đáo Lê Uyên Phương. Mỗi ngày anh thức dậy từ sớm đi lang thang khắp núi đồi Đà Lạt tới khoảng nắng lên thì trở về nhà nghỉ. Khi mặt trời đi ngủ anh lại đi cho tới tối trở về ngồi vào viết tới sáng”.

            Ngày mai, ta không còn thấy nhau.



Năm 1979, Lê Uyên và Phương rời khỏi Việt Nam và định cư tại Nam California, Hoa Kỳ. Họ có hai con gái là Lê Uyên Uyên và Lê Uyên My. Sau 15 năm chung sống, khoảng năm 1984 hôn nhân của hai người tan vỡ.
Sau đó, Lê Uyên lâm bệnh nặng. Sau một thời gian điều trị ở bệnh viện UCI (University Of California in Irvine) Lê Uyên Phương đã về nhà người con gái lớn của anh là Lê Uyên Uyên để sống. Đó là những ngày tháng bi thảm với một tình trạng sức khỏe sa sút do căn bệnh ung thư phổi tàn phá.
Cuối cùng, anh lại được đưa lại bệnh viện này để trút hơi thở cuối cùng vào chiều thứ Ba 29 tháng 06 năm 1999, hưởng dương 59 tuổi. Ông ra đi trong niềm luyến tiếc của mọi người yêu âm nhạc.
Ngày anh ra đi,  Lê Uyên suy sụp và gần như không gượng lại nỗi. Lê Uyên nhớ lại: “Lúc anh mất, tôi đã chuẩn bị thuốc ngủ để theo anh. Tôi khóc từ sáng đến đêm khuya, ngày nào cũng khóc và ngay khi tôi định tìm đến cái chết bởi quá tuyệt vọng thì tôi cảm nhận được có điều gì đó từ anh không muốn tôi như vậy. Có thể anh đã xui khiến một người bạn gọi đến cho tôi. Tôi còn nhớ rất rõ đó là ngày thứ 50 anh mất. Tôi không ngờ người bạn ấy có thể nói được những lời mà trước đây anh từng nói với tôi: “Nếu như nhạc của anh không có mình (anh không gọi tôi bằng em mà gọi là mình) thì không biết phải làm sao. Mình không thể khóc hoài như vậy, mình phải sống và có bổn phận gìn giữ, đưa âm nhạc của anh thăng hoa”.
Hơn 10 trôi qua… Giờ đây, Lê Uyên Phương không còn nữa nhưng tình khúc của ông đã trở thành những viên ngọc quý. Với giai điệu đam mê, đầy luyến tiếc, người ta còn thấy ở Lê Uyên Phương một tấm lòng bao dung và sự chắt chiu cho âm nhạc. Một ngày nào đó, trong góc khuất của đời sống, ngồi nghe lại “Dạ khúc cho tình nhân”:
…Ngày em thắp sao trời
Chờ trăng gió lên khơi
Mà mưa bão tơi bời
Một ngày mưa bão không rơi
Trên đôi vai thanh xuân
Ướp hôn nồng bên gối đắm say
Ánh sao trời theo gió rụng rơi đầy…
chúng ta mới thấy hết sự da diết, nồng cháy và ngọt ngào của một tình yêu đã đi xa ..

* Do trang blog không thể post nhạc nên quý bạn đọc có thể click đường link này để nghe Phương cùng với Lê Uyên hát. Xin thành thật cảm ơn !


VŨNG LẦY CỦA CHÚNG TA
Theo em xuống phố trưa nay đang còn chất ngất cơn say
Theo em bước xuống cơn đau, bên ngoài nắng đã lên mau
Cho nhau hết những mê say, cho nhau hết cả chua cay
Cho nhau chất hết thơ ngây, trên cánh môi say
Trên những đôi tay, trên ngón chân bước về tình buồn, tình buồn

Yêu nhau giữa đám rong rêu, theo dòng nước cuốn lêu bêu
Đi qua những phố thênh thang, đi qua với trái tim khan
Ði qua phố bước lang thang, đi qua với trái tim khan

Theo em xuống phố trưa mai đang còn nhức mỏi đôi vai
Theo em bước xuống cơn đau, bên ngoài nắng đã lên mau
Cho nhau hết những mê say, cho nhau hết cả chua cay
Cho nhau chất hết thơ ngây, trên cánh môi say
Trên những đôi tay, trên ngón chân bước về tình buồn, tình buồn

Qua đi, qua đi dứt cơn mê
Tình buồn chồng chất lê thê
Qua đi, qua đi dứt cơn say
Tình này tình rồi thay

Ta sống trong vũng lầy
Một ngày vùi dần, còn vùi sâu, còn vùi sâu
Trong ngao ngán không dứt hết cơn cơn ê chề
Ta sống trong vũng lầy
Một ngày vùi dần, còn vùi sâu, còn vùi sâu
Trong ngao ngán không dứt hết một, một lần đau.


DẠ KHÚC CHO TÌNH NHÂN
Ngày em thắp sao trời
Chờ trăng gió lên khơi
Mà mưa bão tơi bời
Một ngày mưa bão không rơi
Trên đôi vai thanh xuân
Ướp hôn nồng bên gối đắm say
Ánh sao trời theo gió rụng rơi đầy
Cùng rót bao nhiêu ngày hoang
Cùng đếm bao nhiêu mộng tàn
Ru người yêu dấu trong vùng trời đêm

Vừa hoa nở tươi môi
Tình nhân đã xa xôi
Ðời ngăn cách nhau hoài
Một lần thôi đã không thôi
Yêu nhau trong lo âu
Biết bao lần tha thiết nhớ mong
Lá hoa rừng màu xóa đường quay về
Làm ánh sao đêm lẻ loi
Màu tối gương bên đèn soi
Ân tình sâu vẫn trong đời thủy chung

ĐK:

Ðời mãi mãi mãi cách xa
Dòng nước mắt nóng tiễn đữa
Xin cho lần cuối
Tình ấy đắm đuối thiết tha
Vì qua bao nhiêu điêu linh
Xót xa đắng cay trong đời

 Màn đêm mở huyệt sâu
Mộng đầu xin dài lâu
Một vì sao lạ rơi, nghe hồn tê tái
trên dòng hương khói bay
Ái ân ơi đừng phụ lòng ta
Nhớ thương sâu xin gởi người xa
Khóc nhau trong cuộc đời
Giấc mơ xưa khăn phủ vành sô
Có yêu nhau ngọt ngào tìm nhau
Chết bên nhau thật là hồn nhiên!
(Theo Trương Văn Khoa)

Thứ Ba, 5 tháng 10, 2010

THÀNH PHỐ SAU 12 GIỜ ĐÊM...

Ghi chép của VĂN QUANG


Khi màn đêm mỗi ngày buông xuống, giấc ngủ đến như một thói quen thường nhật đối với mọi người, thì có mấy ai biết, thời điểm sau 12 giờ đêm lại có cuộc sống rất riêng của nó. Ghi chép : Thành phố sau 12 giờ đêm, của Văn Quang :



-----------------------------------------





Thành phố sau 12 giờ đêm, cũng là lúc đôi vợ chồng nghèo ở Đất Mới, phường 7, thành phố Đàlạt chuyền vai nhau đôi quang gánh đầy rau, mùa nào thức ấy, nhọc nhằn từng bước chân hướng ra chợ rau. Đôi vợ chồng này chẳng mua, chẳng bán gì mà bởi phận nghèo nên sau thời gian làm thuê, cuốc mướn - anh chị chịu khó mót lại những cây rau còn sót lại trên những mảnh vườn đã thu hoạch xong mang ra chợ đổi mắm, đổi gạo. Mười mấy năm như thế đã trôi qua, cho dù trời nắng hay mưa, khi thành phố đã lặng im trong giấc ngủ say nồng thì hai vợ chồng nghèo này lại trở giấc sau 12 giờ đêm, nặng nhọc bước chân trên vai đôi quang gánh. Nhờ vậy mà 4 đứa con được đến lớp, được học hành và đều là những đứa con ngoan, trò giỏi.

Thành phố sau 12 giờ đêm, người đàn ông tên Thành lại thức giấc để làm cái công việc mỗi ngày của mình trong suốt hơn 7 năm qua. Cũng là công chức Nhà nước hẳn hoi, nhưng vì đồng lương mỗi tháng ít ỏi nên anh Thành xin nghỉ việc rồi chọn nghề chạy xe ôm để phụ vợ lo cho 3 đứa con đang tuổi ăn, tuổi học. Anh chạy xe ôm vào vào thời điểm sau 12 giờ đêm, bởi theo anh, giờ này ít người làm nghề như anh chịu khó làm, còn ban ngày sau quãng thời gian nghỉ ngơi lấy lại sức còn giúp vợ chuyện bếp núc, chuyện học hành của bầy con ba đứa. Nhờ ít người chạy xe sau 12 giờ đêm như anh thắng, mà đồng tiền có được mỗi tối cũng khá hơn, rồi thi thoảng cũng có vị khách thương cảm bởi họ nhận ra đôi môi thâm tím, nhận ra chiếc áo lông vịt quá cỡ mặc trên người của người làm nghề chạy xe ôm như anh Thành, rồi bảo : Anh ơi ! khỏi thối.

Thành phố sau 12 giờ đêm, nơi cầu thang lên xuống khu chợ rau Đàlạt – bà Thắm lại lên đèn. Bà Thắm bán bánh mì xíu mại đã hơn chục năm nay nên người buôn, kẻ bán ở khu chợ đêm này đều biết bà. Biết đến nỗi có mấy đêm bà thắm bị nhức đầu, sổ mũi không ra chợ khiến nhiều người thắc mắc và tiếc ngẩn tiếc ngơ. Thắc mắc thì đã có câu trả lời vì bà thắm cảm hàn, còn vì sao tiếc là bởi mấy gánh bánh mỳ xíu mại ở khu chợ này chẳng qua được bánh mì của bà Thắm. Bánh mì thì vẫn lấy chung một lò, nhưng xíu mại của Bà thắm làm vừa mềm, vừa béo, nước màu cay xé miệng lại thêm miếng da heo, có cọng hành ngò tươi rói khiến mọi người hít hà mà nhớ. Có ai biết, hơn chục năm với gánh bánh mì xíu mại, mỗi đêm hơn trăm ổ mà bà Thắm nuôi được thằng con đầu lên tới đại học, còn đứa con gái út của bà Thắm vừa mới lấy chồng ở dưới thành phố, cách đây chưa đầy một tháng.

Thành phố sau 12 giờ đêm, những người làm đẹp thành phố vẫn cần mẫn với công việc mà ít ai muốn nhận. Chiếc xe rác đêm nào cũng là người bạn đồng hành cùng các chị đi khắp các nẻo đường thành phố để mỗi sáng mai, mọi người được thấy con phố đẹp, được nhẹ nhành bước chân trên những lối cỏ đầy hoa và có chút cảm nhận về một phố núi không có rác. Có mấy ai biết, để có được điều đó – các mẹ, các dì, các chị đành gác lại những toan tính thiệt hơn về một gia đình ấm cúng, hạnh phúc vào lúc nửa đêm, gác lại chút muộn phiền khi người đời bảo làm nghề quét rác. Nhưng thật lòng mà nói, điều đó chẳng làm cho các mẹ, các dì, các chị buồn nhiều, mà điều buồn hơn là tại sao chưa mấy ai có ý thức bỏ rác đúng nơi quy định, trong khi thành phố này đang triển khai cuộc vận động : Thành phố không rác.

Thành phố sau 12 giờ đêm. Vẫn còn nhiều lắm những nét đẹp hiện hữu về cuộc mưu sinh của đôi vợ chồng nghèo mót ra đem ra chợ bán đổi mắm, đổi gạo có tên Thêm – Tam ; của anh Thành thức giấc giữa đêm khuya làm nghề chạy xe ôm phụ vợ lo chuyện học học hành cho bầy con ba đứa ; của bà Thắm bán bánh mỳ xíu mại béo ngậy, có miếng da heo và cọng ngò tươi, cay chảy nước mắt, dành dụm chút tiền còm nuôi con lên đại học. Nhưng thành phố sau 12 giờ đêm vẫn nhiều lắm những cảnh đời ngược ngạo, khi đám thanh niên vô công rỗi nghề lấy ngày làm đêm, rồi khi thành phố sau 12 giờ tụ 5, tụ 7 đua xe lạng lách, bấm còi inh ỏi. Thành phố sau 12 giờ đêm còn có những bữa nhậu quắc cần cầu tới sáng ở các công viên của các cô gái, chàng trai còn rất trẻ, mà ở đó vốn là nơi bình yên của mọi người sau một ngày làm việc mệt mỏi.

Thành phố sau 12 giờ đêm vẫn chộn rộn, ầm ào trong tiếng nhạc phát hết cỡ từ những vũ trường, có những bước chân liêu xiêu của những cô gái mắt xanh, môi đỏ đói tình chờ khách, tìm chỗ qua đêm. Và thành phố sau 12 giờ đêm còn là nơi dung thân cho những kẻ ham chơi, lười lao động phóng xe không biển số rình rập từng nhà suốt mèo, bắt chó …

Thành phố sau 12 giờ đêm …

Văn Quang

Thứ Năm, 4 tháng 2, 2010

MỘT LOÀI HOA MÙA XUÂN ĐÀ LẠT


Mọi người lo ăn tết, chẳng có ai gởi gì cho Văn Đà Lạt 11 cả. Đành post một bài tư liệu vậy

Nói về một loài hoa đặc trưng của Đà Lạt, người ta hay nói đến dã quỳ. Nhưng dã quỳ không chỉ riêng ở Đà Lạt mà hình như có mặt khắp Tây Nguyên. Từ Kon Tum đến Gia Lai, Dak Lak, Dak Nông…nơi nào cũng có chứ đâu riêng gì Đà Lạt - Lâm Đồng ! Còn Mai Anh Đào là một loài hoa của Đà Lạt và chỉ có ở Đà Lạt, nhưng Mai Anh Đào nở hoa vào cuối tháng 12, và đến tết dương lịch là hết. Chỉ có một loại hoa duy nhất, tập trung ở thành phố Đà Lạt (không địa phương nào có), nở từ cuối mùa đông năm này sang đến mùa xuân năm sau, tạo nên một nét riêng cho Đà Lạt là Mimosa. Cho nên gọi Mimosa là loài hoa mùa xuân của Đà Lạt quả không sai!

Mimosa là một loài cây thân gỗ. Cây Mimosa 10 năm tuổi có thể tạo nên một tán lá, rộng cả 10 mét. Mỗi cành Mimosa đều chi chít những nhánh nhỏ, lá kép hình ô-van, dài khoảng 2cm, mặt dưới của lá có mầu trắng bạc như phủ một lớp phấn trắng… Vào mùa mưa, những cây Mimosa đến mùa sung mãn, cây nào cũng cành lá sum xê. Đến tháng 11, khi mùa mưa cao nguyên ngớt dần, hoa đã lấm tấm đầy cành, rồi nở rộ cho đến hết mùa xuân…

Hoa Mimosa mầu vàng, có hàng trăm cánh nhỏ li ti như sợi chỉ, tròn tựa Bồ Công Anh. Mimosa nở thành chùm, nhiều chùm trên một cành… Những lúc cao điểm, Mimosa nở đầy cành, trông vào chỉ thấy một màu vàng-Mimosa, gần như không thấy lá… Đó là lúc người ta không muốn cũng phải nhìn thấy và giật mình, chợt nghĩ ra : Đà Lạt có Mimosa!

Trong một bộ phim tài liệu, Truyền hình Việt nam đã giới thiệu đất nước Hung-ga-ry với những đồi hoa Mimosa vàng rực. Mimosa được khai thác, vận chuyển bằng cơ giới về những trung tâm cắt tỉa, đóng gói vào những bao bì carton dài hơn mét và xuất đi các nước, khắp Châu Âu. Thì ra, họ đã qui hoạch thành những vùng chuyên canh Mimosa, gieo trồng, chăm bón, khai thác… theo một qui trình nghiêm ngặt để Mimosa trở thành một loại hoa hàng hóa giá trị. Nhìn thấy cảnh hằng trăm công nhân thu hoạch, cắt tỉa, đóng gói hoa và một lúc xuất đi hàng chục container, bỗng thấy chạnh lòng nghĩ đến Mimosa Đà Lạt!

Người ta gặp nhau, chỉ hỏi thăm về hoa hồng, hoa lan, hoa cúc…là những loại hoa có giá trị kinh tế, chứ chẳng ai hỏi đến Mimosa ! Cho nên, có thể nói Cây Mimosa Đà Lạt bị xem như là một loại cây thứ cấp, không có giá trị kinh tế nên không ai chủ ý trồng Mimosa, trừ khi có một chút đất trống góc vườn, dọc hàng rào, có Mimosa cũng được, không có cũng xong ! Không phải là tất cả đều vô tình trước Mimosa, Tôi đã gặp vài người cố tình trồng Mimosa trong vườn mình và hãnh diện về cái đẹp của loài hoa này.

“Mimosa có thân mảnh, cành nhiều nhưng rễ rất yếu, cho nên trồng Mimosa không cách nào hơn là phải ươm bằng hạt để bộ rễ phát triển đầy đủ nhất. Mimosa còn non ta phải biết cắt, chiết bớt cành, giảm độ cao để không bị gió mùa mưa đánh bật gốc…” Đó là phát biểu của một nghệ nhân già, một người Đà Lạt gốc, cựu học sinh Trần Hưng Đạo - Đà Lạt, học Đại học Sư phạm Sài Gòn từ năm 1962 của thế kỷ trước, sau đó dạy học ở Đà Lạt cho đến ngày nghỉ hưu… Sở dĩ ông nói về kỹ thuật trồng Mimosa như trên là do một sự ngẫu nhiên, cây Mimosa vườn nhà bạn mọc cao quá, ông phải cắt ngắn để khỏi chạm vào dây điện…Kết quả, bạn ông có một cây Mimosa đẹp như bonsai, không cao nhưng tán rộng, đến mùa hoa nở rộ, đẹp như một loại “kỳ hoa”. Ông cũng phê phán việc trồng Mimosa trên thế đất nghiêng đứng của ta-luy vì rễ sẽ không “cõng” được tán cây, sẽ đổ !

“Mimosa từ đâu em tới…?”, Du khách đã từng bị mê hoặc vì Mimosa, huống chi người Đà Lạt vì lẽ Đà Lạt là nơi duy nhất trên đất nước này có Mimosa và Mimosa chỉ chịu “kết duyên” cùng Đà Lạt mà thôi… Thực ra, ở Đà Lạt còn có nhiều người thích Mimosa, không phải vì giá trị kinh tế, không phải vì hương sắc quyến rũ của nó mà vì họ yêu một mùi hương thanh khiết nhẹ như không, một nhan sắc mộc mạc rất Đà Lạt . Đến nỗi họ sẵn sàng mang cái vốn hiểu biết riêng của mình, gieo trồng, chăm sóc không cần thù lao, nếu nhà nước muốn trồng những “đồi Mimosa” tập trung.

Dù người nhớ, dù người quên, Mimosa vẫn là hoa của Đà Lạt, một chi tiết của Đà Lạt. Mỗi mùa xuân, du khách còn tìm đến để có những tấm hình đứng cạnh Mimosa, như một ghi nhớ : Ta đã đến Đà Lạt mùa xuân này

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2009

ĐÀ LẠT XƯA QUA HỒI ỨC NHỮNG NGƯỜI LÀM VƯỜN

Thời gian đã qua đi không trở lại… Bây giờ vãn cảnh Đà Lạt trong không gian cổ tích sương giăng bảng lảng và cả trong sự phát triển đô thị theo guồng quay cuộc sống, đã đôi lần du khách vẫn tự vấn rằng: Đà Lạt hiện hữu, còn Đà Lạt trong giấc mơ xưa…?

Đà Lạt nước mênh mang, nước xanh rờn…

Đà Lạt xưa hoang vu, huyền bí. Đà Lạt nay như huyền thoại của hiện thực. “50 năm trước (1953) tôi đưa vợ và 6 đứa con từ Xiêng Khoảng – Lào trở về Việt Nam, nhưng không về quê ở Nghệ An mà tìm đường lên Đà Lạt cùng với 17 hộ khác” - cụ Hoàng Nghĩa Trân tự là Dần – 81 tuổi kể. Ông nói tiếp: “Tất cả mọi con đường đều rất nhỏ, len lỏi dưới cánh rừng thông, rừng dẻ. Từ đây toả về các ngả đều là rừng hết, hoang vu và xanh ngút ngàn. Buổi sáng sương mù mịt, nước lạnh cứng không thể thò tay được. Hồi đó đi đến đâu cũng thấy suối và hồ nước. Nước xanh rờn, sâu và đẹp lắm: Những vạt bông súng nở tím ngắt suốt chiều dài của những hồ nước, hầu hết những con suối nước màu xanh ngắt, cắm cây tre thật dài cũng chưa thấy đáy. Vào tháng 8, sương muối dày đặc. Mưa đá liên tục, mỗi lần mưa đá vừa dứt, ra xúc hàng thúng đá…”
Một vùng muông thú và chim chóc
“Hổ, nai, đỏ, heo, trăn, rắn, chim, gà rừng… nhiều quá trời”.
Cụ Lê Kế - 95 tuổi, hiện ở ấp Thái Phiên, phường 12 – thành phố Đà Lạt nhớ lại:
Tôi là một trong 17 hộ đầu tiên đến khai hoang lập ấp ở vùng Thái Phiên này. Hồi đó vùng này bạt ngàn rừng ngo, rừng dẻ, rừng dớn… những gốc ngo, gốc dẻ to mấy người ôm không xuể. Thú rừng rất nhiều. Tôi làm cái chòi ở trong, đêm đến cọp cứ đi bép bép ở ngoài. Cọp xứ này rất hiền, có lần cọp đi trước, tôi tưởng người nên cứ kêu hoài “chờ với” tôi chạy theo miết, đến sáng ra mới thấy đi trước mình là những dấu chân cọp to bằng nắm đấm người lớn. Tôi đã gặp cọp nhiều lần. Gặp “ổng” thì đừng có chọc, mà chỉ cần lấy cái cày quắt chóc chóc vào không khí, hoặc cầm cục đá “chó cữ thổ, hổ cữ thạch” mà. Hồi đó trăn, rắn, đỏ, thỏ, heo rừng, chim chóc, gà rừng… thứ gì cũng có. Ăn tối xong, nai, mang kêu dầm dầm, cọp đi vòng vòng ngoài chòi, nhưng không bao giờ vào chòi vồ người, hoặc bắt heo, gà trong chòi.
Người đi mở đất lập làng
Ông Nguyễn Xuân Bách – 76 tuổi bắt đầu câu chuyện của ông từ việc mới đây người dân ấp Thái Phiên đã xây dựng một ngôi đình thờ cụ Phan Văn Miễu, người đầu tiên đưa dân về Thái Phiên mở đất, lập làng. Ngoài việc suy tôn cụ Phan Văn Miễu là “Thành hoàng làng”. Đến nay các bậc cao niên ở Thái Phiên vẫn kể lại và nhắc nhở cho con cháu về lòng biết ơn đối với những người đã có công dẫn dắt những người nghèo khổ đến vùng đất này tìm đất sống. “Ngoài tấm lòng thương dân, cụ Phan Văn Miễu còn là một người yêu nước” – ông Nguyễn Xuân Bách khẳng định: “Vì cụ đã chọn chữ Thái Phiên là tên của một nhà yêu nước nổi tiếng để đặt cho ngôi làng mới này”.
Một người có cùng tâm huyết, cùng chí hướng với ông Phan Văn Miễu là ông Bát Kỳ… Sau đận Mậu Thân 68, Mỹ ném bom tan nát làng Phước Yên - huyện Quảng Điền - tỉnh Thừa Thiên Huế, ông bà Bát Kỳ dẫn nhau vào Thái Phiên khai khẩn đất đai, thấy vùng đất lành, ông bà đã trở về làng đỡ đần toàn bộ trẻ mồ côi làm con nuôi và 200 hộ người cùng làng quê nghèo đói vào đây sinh sống.
Những căn nhà mộc mạc bên những con đường đất đỏ
“45 năm trước (1957) tôi mang vợ con từ Sài Gòn lên Đà Lạt, cuốc sạch một đám cỏ sình, tôi cất một túp lều lá buông để ở - sình cỏ đó bây giờ là chợ Đà Lạt”. Bác Nguyễn Hữu Nam tự Tư Phong – 74 tuổi kể lại: Lúc đó Đà Lạt chỉ có vài chục biệt thự, dinh thự, còn nhà dân hầu hết làm bằng gỗ, vách đất, mái lợp lá buông. Mọi con đường đều bằng đất rất nhỏ xuyên qua những cánh rừng hoang vu, những đồi thông nối tiếp nhau đến bất tận. Đến năm 1963 – 1964 những con đường mới đổ đá cấp phối, khoảng năm 1966 – 1967 vùng Thái Phiên này mới có điện. Khoảng năm 1964 – 1965 một người dân là ông Chỉnh xây được một căn nhà, nổi tiếng đến mức vùng này đặt chết tên là “Chỉnh nhà lầu”. Hồi đó thích che chòi, che trái kiểu gì cũng được. Người đi mở đất vất vả lắm, hầu hết dân sống bằng nghề trồng la gim, ngày ngày gánh nước từ dưới hục lên tưới rau. Đến năm 1966, tôi mua được máy Bẹc Na tưới nước cho rau là mừng hung rồi. Mãi tận sau giải phóng người dân mới bắt đầu trồng hồng (ăn trái), atisô và hoa các loại để kinh doanh. Từ đây người dân có của ăn của để, nếu đủ đầu tư xây nhà cửa - hạ tầng cơ sở được nhà nước đầu tư nên thành phố ngày càng văn minh, hiện đại.
(Dalatnews)