Thứ Tư, 24 tháng 6, 2009

TẠI SAO KHÔNG?

Một trăn trở với nhân tình thế thái














TRƯƠNG VĂN LIN

"Với lòng nhân hậu và vị tha thì không có gi
là không thể không làm được"


Thì cũng giản đơn như cuộc sống vậy thôi
Tại sao không, sống với nhau bằng tình nghĩa
Tại sao không, chia sẻ nhau như những khi khốn khó
Kèn cựa cuối cùng có được gì đâu ?

Tại sao không nhớ nhau lúc nâng cốc, cạn ly
Mà cứ nhớ nhau lúc phê bình, kiểm điểm
Vạch lá tìm sâu, ngộ nhận mình trung thực
Cầm lá phiếu bầu, có nghe thẹn trong tâm.

Tại sao không thương nhau trong lúc lỡ lầm
Mà cứ tung huê nhau, khi hiển vinh, thành đạt
Một chén nước cho người trong sa mạc
Quý hơn nhiều ly bia, trong những bữa tiệc mừng.

Tại sao không nhường nhau khi bếp lửa chiều đông
Mà cứ tranh nhau, cơn gió nồm mát rượi
Dẫu gió của trời, vẫn muôn đời phóng khoáng
Có nhường cho nhau, cũng đâu mất mát gì.

Tại sao trên quãng đường nhiều người cùng đi,
Lại cứ mong có người vấp ngã
Cũng như trong cuộc đời nghiệt ngã
Cứ mong có người bất hạnh hơn mình.

Đơn giản như tôi,
buổi sáng chào bình minh
Buổi chiều chào hoàng hôn
Làm vài ly, đi ngủ.

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2009

CÕI LẶNG IM

Lâu quá nhà thơ Phạm Ánh mới gởi thơ cho Văn Đà Lạt 11














Anh về buồn với cỏ cây
Lặng soi gương nước lòng đầy trăng sao
Ngược dòng cổ tích ca dao
Đò đưa mấy chuyến tri giao một mình.

Thương ai lỡ vận phiêu linh
Bơ vơ cảnh cũ thất tình lên non
Nghìn năm bia đá cũng mòn
Em ơi một tấm lòng son sáng ngời.

Ai xui ai đến tìm người
Hình như để khóc để cười trong tim
Gió về trong cõi lặng im
Bóng ai lay động nỗi niềm nghìn thu.

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2009

ĐÀ LẠT XƯA QUA HỒI ỨC NHỮNG NGƯỜI LÀM VƯỜN

Thời gian đã qua đi không trở lại… Bây giờ vãn cảnh Đà Lạt trong không gian cổ tích sương giăng bảng lảng và cả trong sự phát triển đô thị theo guồng quay cuộc sống, đã đôi lần du khách vẫn tự vấn rằng: Đà Lạt hiện hữu, còn Đà Lạt trong giấc mơ xưa…?

Đà Lạt nước mênh mang, nước xanh rờn…

Đà Lạt xưa hoang vu, huyền bí. Đà Lạt nay như huyền thoại của hiện thực. “50 năm trước (1953) tôi đưa vợ và 6 đứa con từ Xiêng Khoảng – Lào trở về Việt Nam, nhưng không về quê ở Nghệ An mà tìm đường lên Đà Lạt cùng với 17 hộ khác” - cụ Hoàng Nghĩa Trân tự là Dần – 81 tuổi kể. Ông nói tiếp: “Tất cả mọi con đường đều rất nhỏ, len lỏi dưới cánh rừng thông, rừng dẻ. Từ đây toả về các ngả đều là rừng hết, hoang vu và xanh ngút ngàn. Buổi sáng sương mù mịt, nước lạnh cứng không thể thò tay được. Hồi đó đi đến đâu cũng thấy suối và hồ nước. Nước xanh rờn, sâu và đẹp lắm: Những vạt bông súng nở tím ngắt suốt chiều dài của những hồ nước, hầu hết những con suối nước màu xanh ngắt, cắm cây tre thật dài cũng chưa thấy đáy. Vào tháng 8, sương muối dày đặc. Mưa đá liên tục, mỗi lần mưa đá vừa dứt, ra xúc hàng thúng đá…”
Một vùng muông thú và chim chóc
“Hổ, nai, đỏ, heo, trăn, rắn, chim, gà rừng… nhiều quá trời”.
Cụ Lê Kế - 95 tuổi, hiện ở ấp Thái Phiên, phường 12 – thành phố Đà Lạt nhớ lại:
Tôi là một trong 17 hộ đầu tiên đến khai hoang lập ấp ở vùng Thái Phiên này. Hồi đó vùng này bạt ngàn rừng ngo, rừng dẻ, rừng dớn… những gốc ngo, gốc dẻ to mấy người ôm không xuể. Thú rừng rất nhiều. Tôi làm cái chòi ở trong, đêm đến cọp cứ đi bép bép ở ngoài. Cọp xứ này rất hiền, có lần cọp đi trước, tôi tưởng người nên cứ kêu hoài “chờ với” tôi chạy theo miết, đến sáng ra mới thấy đi trước mình là những dấu chân cọp to bằng nắm đấm người lớn. Tôi đã gặp cọp nhiều lần. Gặp “ổng” thì đừng có chọc, mà chỉ cần lấy cái cày quắt chóc chóc vào không khí, hoặc cầm cục đá “chó cữ thổ, hổ cữ thạch” mà. Hồi đó trăn, rắn, đỏ, thỏ, heo rừng, chim chóc, gà rừng… thứ gì cũng có. Ăn tối xong, nai, mang kêu dầm dầm, cọp đi vòng vòng ngoài chòi, nhưng không bao giờ vào chòi vồ người, hoặc bắt heo, gà trong chòi.
Người đi mở đất lập làng
Ông Nguyễn Xuân Bách – 76 tuổi bắt đầu câu chuyện của ông từ việc mới đây người dân ấp Thái Phiên đã xây dựng một ngôi đình thờ cụ Phan Văn Miễu, người đầu tiên đưa dân về Thái Phiên mở đất, lập làng. Ngoài việc suy tôn cụ Phan Văn Miễu là “Thành hoàng làng”. Đến nay các bậc cao niên ở Thái Phiên vẫn kể lại và nhắc nhở cho con cháu về lòng biết ơn đối với những người đã có công dẫn dắt những người nghèo khổ đến vùng đất này tìm đất sống. “Ngoài tấm lòng thương dân, cụ Phan Văn Miễu còn là một người yêu nước” – ông Nguyễn Xuân Bách khẳng định: “Vì cụ đã chọn chữ Thái Phiên là tên của một nhà yêu nước nổi tiếng để đặt cho ngôi làng mới này”.
Một người có cùng tâm huyết, cùng chí hướng với ông Phan Văn Miễu là ông Bát Kỳ… Sau đận Mậu Thân 68, Mỹ ném bom tan nát làng Phước Yên - huyện Quảng Điền - tỉnh Thừa Thiên Huế, ông bà Bát Kỳ dẫn nhau vào Thái Phiên khai khẩn đất đai, thấy vùng đất lành, ông bà đã trở về làng đỡ đần toàn bộ trẻ mồ côi làm con nuôi và 200 hộ người cùng làng quê nghèo đói vào đây sinh sống.
Những căn nhà mộc mạc bên những con đường đất đỏ
“45 năm trước (1957) tôi mang vợ con từ Sài Gòn lên Đà Lạt, cuốc sạch một đám cỏ sình, tôi cất một túp lều lá buông để ở - sình cỏ đó bây giờ là chợ Đà Lạt”. Bác Nguyễn Hữu Nam tự Tư Phong – 74 tuổi kể lại: Lúc đó Đà Lạt chỉ có vài chục biệt thự, dinh thự, còn nhà dân hầu hết làm bằng gỗ, vách đất, mái lợp lá buông. Mọi con đường đều bằng đất rất nhỏ xuyên qua những cánh rừng hoang vu, những đồi thông nối tiếp nhau đến bất tận. Đến năm 1963 – 1964 những con đường mới đổ đá cấp phối, khoảng năm 1966 – 1967 vùng Thái Phiên này mới có điện. Khoảng năm 1964 – 1965 một người dân là ông Chỉnh xây được một căn nhà, nổi tiếng đến mức vùng này đặt chết tên là “Chỉnh nhà lầu”. Hồi đó thích che chòi, che trái kiểu gì cũng được. Người đi mở đất vất vả lắm, hầu hết dân sống bằng nghề trồng la gim, ngày ngày gánh nước từ dưới hục lên tưới rau. Đến năm 1966, tôi mua được máy Bẹc Na tưới nước cho rau là mừng hung rồi. Mãi tận sau giải phóng người dân mới bắt đầu trồng hồng (ăn trái), atisô và hoa các loại để kinh doanh. Từ đây người dân có của ăn của để, nếu đủ đầu tư xây nhà cửa - hạ tầng cơ sở được nhà nước đầu tư nên thành phố ngày càng văn minh, hiện đại.
(Dalatnews)

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2009

CHIA BUỒN CÙNG BẠN HUỲNH THỊ SEN VÀ GIA ĐÌNH


TIN BUỒN:
Ban liên lạc xin được báo tin đến tất cả các bạn Cựu sinh viên Văn K11 Đại học Đà Lạt : Thân phụ bạn Huỳnh Thị Sen vừa từ trần vào sáng nay(12/5) tại Ninh Hòa- Khánh Hòa. Lễ viếng được tiến hành vào ngày mai (13/5). Lễ an táng được tiến hành vào ngày mốt (14/5). Xin được báo các bạn biết để chia buồn với bạn Sen và gia đình.
(ĐT bạn Sen đang sử dụng:0633.755.751)
LỜI CHIA BUỒN:
Được tin Thân phụ bạn Huỳnh Thị Sen vừa từ trần, Ban liên lạc Cựu sinh viên Văn K11 Đại học Đà Lạt xin chân thành gởi đến bạn và gia đình lời chia buồn sâu sắc nhất.
BAN LIÊN LẠC

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2009

ĐIỀU KHÔNG THỂ NÓI

Được mùa truyện ngắn. Sáng tác mới của Huỳnh Thị Phượng ký danh Hoàng Phượng


Truyện ngắn của HOÀNG PHƯỢNG

Gần 40 tuổi, nàng đã từng đi qua một vài mối tình, nhưng chưa có mối tình nào bén duyên ở lại với nàng. Thuộc típ người lạc quan, nàng không lấy thế làm lo lắng, trong khi cha mẹ nàng thì lo ngay ngáy, sợ nàng làm bà cô suốt đời. Ngoài thời gian làm việc ở công sở, nàng dành thời gian đi thể dục thẩm mỹ, đi uống cà phê, nghe nhạc với bạn bè và lang thang trên internet. Nàng cảm thấy cuộc sống độc thân thật nhẹ nhàng, dễ chịu. Nghĩ tới mấy đứa bạn của cô bây giờ suốt ngày lo toan cơm áo gạo tiền, con cái tay bế, tay bồng; có đứa cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hôm nay đánh đập, ngày mai dắt nhau ra toà trong cái nhìn ngây thơ của mấy đứa trẻ vô tội mà nàng thấy ngán ngẫm…Nàng không nói ra với ai cái sự ngán ngẫm của mình, nhưng nàng quyết tôn thờ chủ nghĩa độc thân.
Nhưng rồi cái quyết tâm của nàng cũng bị lung lay và bị phá vỡ khi nàng gặp anh, một người ban đầu chẳng có gì làm nàng chú ý. Anh cao, hơi gầy với màu da ngăm ngăm đen của sóng và gió, lại hơn nàng gần cả mười tuổi. Nhưng rồi nàng bắt đầu để ý đến anh qua cách anh nói chuyện. Nàng phát hiện ra một điểm rất đặc biệt ở anh, đó là sự dí dỏm, khôi hài. Ban đầu nàng ngạc nhiên, sau đó nàng bắt đầu thấy thích vì điều đó làm cho anh có cá tính và dễ gần.
Một lần gặp gỡ duy nhất, một lần bắt tay duy nhất, vậy mà khi trở về nhà trái tim khó tính của nàng bắt đầu nghĩ đến anh. Cũng may, nàng có số điện thoại của anh, trước lúc chia tay họ đã kịp trao đổi cho nhau. Nàng đắn đo không biết có nên gửi tin nhắn cho anh và bắt đầu tin nhắn như thế nào! Trong lúc do dự, nàng nhận được tin anh chúc nàng ngủ ngon. Nàng hạnh phúc đến lặng người, vì nàng biết đó là tín hiệu của sự quan tâm. Cứ thế tin đến, tin đi và theo thời gian nàng biết anh đã có gia đình. Vợ anh trong một lần tai biến, đã trở thành người bệnh suốt đời. Một tay anh vừa chăm sóc người vợ bệnh tật, vừa nuôi hai con nhỏ, vừa lo công tác xã hội. Nghĩ đến anh, nàng cảm thấy anh thật thiệt thòi, nhất là trong cuộc sống vợ chồng, vừa thầm cảm phục anh là người chồng, người cha tốt. Từ cảm phục, tôn trọng, nàng yêu anh lúc nào không biết. Nàng đau khổ nhận ra sự ngang trái trong tình cảm của mình. Thỉnh thoảng anh cũng thường nhắn tin, gọi điện hỏi thăm sức khỏe của nàng, động viên nàng như với một cô em gái. Nàng cũng giấu đi những tình cảm thật của mình khi đối diện với anh. Nỗi nhớ anh làm nàng gầy đi trông thấy. Anh phát hiện ra sự ốm đi của nàng và nàng thường chống chế do mình dạo này biếng ăn. Những lúc như thế anh thường nhắc nhở nàng như một người anh trai. Sự ân cần, chu đáo của anh càng làm cho nàng đau khổ. Vốn là người hay nói hay cười, thế mà nàng thay đổi và trở thành một người khác hẳn. Nàng hay ngồi một mình với ly cà phê đen và thả hồn vào những suy tư. Có lúc nàng uống rượu một mình. Nàng biết uống rượu không tốt cho sức khỏe, nhưng nó sẽ làm cho nỗi khổ tâm của nàng lắng xuống và đưa nàng vào giấc ngủ sâu hơn, êm dịu hơn.
Lần đầu tiên trong đời nàng biết thế nào là tương tư. Trước đây, nàng đã từng được yêu, từng yêu, nhưng chưa bao giờ có cảm xúc như yêu anh. Trong những cuộc tình đó, nàng không có cảm xúc day dứt, nàng được quyền nói yêu hay khước từ. Còn tình yêu với anh, đó là điều nàng không thể nói. Theo cảm nhận của nàng, dù không có một hạnh phúc trọn vẹn, nhưng anh đang có một gia đình theo đúng nghĩa của nó. Ở đó, anh đang là người chồng, người cha đầy trách nhiệm, nàng không thể vì yêu anh mà làm cuộc sống của anh, của những thành viên trong gia đình anh bị xáo trộn. Nàng nghĩ một mình nàng đau khổ đã đủ. Không biết bao giờ thời gian mới làm cho nàng nguôi ngoai, mới quên được anh, nhưng nàng nghĩ thời gian luôn là phương thuốc màu nhiệm giúp cho người ta chữa lành mọi vết thương lòng.
Nghĩ như vậy, nàng thấy lòng nhẹ lâng lâng như chút nắng xuân đang trải nhẹ trong vườn. Sau bao tháng ngày day dứt, nàng đã chọn cho mình một lối đi, mà nàng tin đó là lối đi đúng nhất, cả cho nàng và cho cả anh nữa.

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2009

TRUYỆN NGẮN MI-NI

Lâu quá mới có một entruy gởi cho Văn Đà Lạt 11 của Trương Lin. Xin mời các bạn gởi cho nhiều nhiều...



TIỀN NHẶT
Truyện ngắn của MINH NHÃ

Nó thức dậy khi trong phòng không còn người nào, có lẽ tất cả đều đến thư viện, mùa thi mà. Bụng kẹp lép, túi trống rỗng, mấy chén cơm ký túc xá từ chiều hôm qua chắng bõ bèn gì với cái dạ dày sinh viên vốn chăm chỉ hơn cái đầu.
Trên đường đến thư viện, nó ước mơ một cái bánh mì, một ly cafe để yên tâm ôn bài đợi giờ cơm trưa. Hình như trời có mắt, bên vệ đường một tờ bạc năm nghìn đập vào mắt nó. Nhanh chóng tạt vào mộ quán cafe, điểm tâm sinh viên nó thoả mãn ước mơ của mình.
Ra khỏi quán, nó vừa di vừa huýt sáo bài “Chủ nhật tươi hồng”. Bỗng sau lưng nó có tiếng khóc trẻ con, rồi giọng hét gay gắt của phụ nữ:
- Tao gánh nước từ khuya đến giờ mới được năm ngàn, sai mày đi mua gạo mày quăng mất, trưa nay ăn gì hở con !
Nó cuối đầu bước nhanh, sau lưng tiếng khóc trẻ con đuổi theo.

ĐIỆN THOẠI
Truyện ngắn của MINH NHÃ

Anh rất dễ bị thức giấc. Một tiếng động khẽ trong đêm cũng làm anh tỉnh ngủ và khi đã tỉnh rồi thì rất khó ngủ lại. Vậy mà từ khi mắc được cái điện thoại riêng ở nhà, anh luôn bị quấy rầy.
Có khi hơn mười giờ đêm, điện thoại reng..reng...reng. Anh cầm máy, bên kia một giọng nhừa nhựa hơi men:
- Alô, Hùng hả ? Sơn đây mà, Hợp đồng ký xong chưa ?
- Anh nhầm máy rồi, đây không phải nhà anh Hùng.
- Rụp. Tiếng cắt máy bên kia phũ phàng.
Cũng có khi lịch sự hơn: “ Alô phải nhà chị Thuỷ không ?”.
- Không phải, chị nhầm máy.
- Vậy à, tôi xin lỗi. Cám ơn anh.
Và có rất nhiều lần như vậy. Có điều, những cú điện thoại đêm khuya thường báo những điều bất thường nên lúc nào anh cũng phải cầm máy và phải thức suốt cả đêm. Đêm nay cũng vậy, vợ đi công tác, vất vả lắm anh mới dỗ được thằng nhóc ngủ. Vừa chợp mắt, thì lại reng ...reng. Anh cầm máy, giọng đầu dây bên kia có vẻ hối hả:
- Có phải nhà con Lan, con Hương trọ học không ạ.
Đang bực mình, anh đáp đại: ừ phải.
- Anh báo dùm, mẹ nó đang cấp cứu ở bệnh viện tỉnh, cám ơn.
- Anh chưa kịp thanh minh, thì bên kia đã cúp máy. Nằm với con anh thầm mong có điện thoại gọi lại, song chẳng nghe reng...reng. Thêm một đêm thức trắng.

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2009

VÀ NHỚ RA…


BẢO THÚY
Có một đồ ngốc nào đó cứ nằng năc đòi đi dạy, học đòi thôi mà cũng tại thích nữa chứ, rồi ân hận. Ân hận mà không bỏ được vì chẳng thể nào đi bán cà rem…
Cứ tưởng nhàn hóa ra là vất vả, chẳng còn kịp thở, chẳng có thời gian mà nhớ ra là mình đã học Văn, không viết lách và cũng không luôn nhớ ra mình là ai giữa cái chốn cuộc đời. Nghe thì buồn cười mà thật, thật đến đau lòng. Sáng vội vội vàng vàng đến lớp, chiều cũng tất bật đến lớp lúc thì dạy chính khóa, lúc dạy thêm ở trường khác, tối lại trung tâm rồi soạn bài, chấm bài…Cứ nghĩ nghề khác được thảnh thơi là tức đến phát điên và ghen tị. Vậy mà nó thành nghiệp, thành bệnh, không đến trường lại nhớ, không được dạy thì cứ nói nhảm một mình, bằng không thì hát, không đầu không đuôi chỉ cốt cho cơ miệng hoạt động.
Rồi đọc tất cả những gì của học trò và nhiễm luôn cái cách viết vụng về và dở dang như thế. Bây giờ thì thấm thía cái điều mà bạn mình từng viết:
“Nếu mà tôi có được một lời khuyên
Thì xin em hãy đừng theo nghiệp giáo…”
Lúc đó nghe mà tức, ngẫm ra bây giờ đúng thiệt! Người ta bảo không giải tỏa được thì phát bệnh còn nghiệp giáo muốn street cũng khó, bởi ngày nào cũng nói, cũng nhìn vào bài vở của học trò, nhớ như in từng nét chữ sau một bài kiểm tra một tiết, tài vậy đó nhưng mà nhớ chữ chứ nhớ người thật khó.

Rồi một ngày nghe lại giọng nói của bạn bè mới vỡ ra một điều: nếu lâu không nghe tiếng người thân cũng dễ quên dần theo năm tháng, dám ở lâu không được nghe tiếng người là quên luôn giọng nói! Sợ thật! Sợ nhất là tiếng con người cũng “già” theo năm tháng. Ừ mà tức cười, người ta nói, mặt người già đi cùng năm tháng, còn mình thì cảm nhận cả giọng nói của bạn mình cũng “xuống cấp” với thời gian: Nhỏ Phượng gọi từ Nha Trang, vẫn “điệu” vậy nhưng cũng đến tuổi rồi, anh Lin khàn khàn phảng phất một chút gì của cái thời xa lắc, anh Quang thì “nhão” cùng với rượu – là mình nghĩ thế, nếu sai chắc anh ấy cũng chẳng giận, mà giận thì làm gì được! Thế Hải cũng vậy qua cái cảm giác trong giọng nói của một người đứng tuổi, còn Bảo Long đã một lần mình tưởng tiếng học trò hay phụ huynh gì đó, bệnh nghề nghiệp mà. Dám chắc là chị Tùng Chinh hay chị Linh Thảo, chị Hảo (dạy cấp II ở Hà Nội 04.755.3765) hay là Thanh ở Lâm Hà cũng nghĩ như mình thôi. Lâu quá rồi chẳng thấy chị Chinh có bài mới, đọc cái cũ cho đỡ buồn và chờ cái mới mỏi mệt ghê, cũng biết chị Chinh đi dạy mà vẫn chờ…
Đọc của học trò hoài cũng chán, có một cái blog Văn 11 để đọc và nhớ cũng thích, chỉ có điều đứa nào cũng tất bật, viết lách thì “chán òm” mà vẫn muốn đọc, đọc để nhớ, đọc để hiểu là mình cần bạn bè đến độ nào, cần cái đám “dở dở ương ương” giúp mình thành một con người mà lúc nào nhớ lại cũng cứ tự hào “Văn 11”!
Mười mấy năm rồi mà câu chuyện về cái đám “Văn 11” vẫn như mới hôm qua, nhớ đấy rồi quên và lại nhớ bởi nó là kỉ niệm, là cái nơi mà mỗi lúc chán chường lắm lắm về trường lớp mỗi đứa lại có riêng một chỗ dựa tinh thần.
Và nhớ ra là mình cần mọi người, cần nơi để “trút” vào bất cứ cái gì có thể!
Cần một nơi để giải tỏa và chia sẻ…như “cái túi hồ lô khổng lồ” nhận mà không phản ứng!
Bảo Lộc, 25.3.2009
Bảo Thúy